Skip to content
Chương trình - đề tài nghiên cứu khoa học
Giới thiệu các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp ủy ban năm 2020
20/11/2020

GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CẤP ỦY BAN NĂM 2020

I. ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1. Đề tài UB.20.01: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính gắn với đặc thù hoạt động của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Chủ nhiệm đề tài: Tiến sỹ Đặng Tài An Trang

Đơn vị chủ trì:    Vụ Tổ chức cán bộ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 26/11/2019, Luật Chứng khoán sửa đổi đã được thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Luật Chứng khoán mới đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới đối với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) bên cạnh những nhiệm vụ đã và đang tiếp tục triển khai.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/05/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp đặt ra những thay đổi lớn về chính sách tiền lương. UBCKNN hiện nay đang thực hiện chế độ tự chủ về biên chế và kinh phí hoạt động theo Quyết định 29/2009/QĐ-TTg ngày 20/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chế độ tự chủ về biên chế và kinh phí hoạt động của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Trong nhiều năm qua, cơ chế tự chủ về biên chế và kinh phí hoạt động theo Quyết định 29/2009/QĐ-TTg là cơ sở quan trọng để UBCKNN: (1) thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; tăng cường công tác quản lý, giám sát thị trường chứng khoán; bảo đảm sự hoạt động an toàn và hiệu quả của thị trường chứng khoán; (2) xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn cao; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và từng bước bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức; (3) nâng cấp cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc nhằm nâng cao năng lực quản lý, giám sát. Tuy nhiên, hiện các cấp đang có quan điểm, chỉ đạo về việc xem xét không tiếp tục áp dụng cơ chế tài chính đặc thù đối với các cơ quan hành chính nhà nước trong thời gian tới.

Vì vậy, vấn đề có tính cấp thiết hiện nay là phải đánh giá lại kết quả thực hiện chế độ tự chủ về biên chế và kinh phí hoạt động của UBCKNN theo Quyết định 29/2009/QĐ-TTg ngày 20/02/2009 gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Từ đó, đánh giá khách quan về sự cần thiết của việc duy trì cơ chế tự chủ này; đồng thời xây dựng, đề xuất phương án tài chính đối với UBCKNN cho giai đoạn 2021-2025, đảm bảo phù hợp với chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng, Nhà nước. Đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính gắn với đặc thù hoạt động của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước” được triển khai nghiên cứu với định hướng giải quyết những vấn đề nêu trên.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế liên quan đến cơ chế tài chính và yêu cầu về đảm bảo nguồn lực của các cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ về biên chế và kinh phí hoạt động của UBCKNN theo Quyết định số 29/2009/QĐ-TTg.

Đề xuất phương án tài chính đối với UBCKNN giai đoạn 2021-2025.

1.3 Nội dung đề tài:

Chương I: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm các nước trong việc bảo đảm nguồn lực và cơ chế tài chính đối với cơ quan quản lý, giám sát về TTCK.

Chương II: Đánh giá kết quả thực hiện chế độ tự chủ về biên chế và kinh phí hoạt động của UBCKNN theo Quyết định số 29/QĐ-TTg.

Chương II: Đề xuất phương án cơ chế tài chính của UBCKNN giai đoạn 2021-2025.

2. Đề tài UB.20.02: Ứng dụng hệ thống giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các công ty chứng khoán tại Việt Nam

Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ Lê Sử Năng

Đơn vị chủ trì:    Vụ Quản lý kinh doanh

2.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế. Lĩnh vực tài chính được đánh giá sẽ có nhiều cơ hội phát triển từ cuộc cách mạng công nghiệp lần này. Thị trường vốn trên thế giới đã có sự phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy hình thành những loại hình thị trường mới và sản phẩm, công cụ, phương thức giao dịch mới. Tuy nhiên, bên cạnh những giá tri to lớn mang lại cho nền kinh tế nói chung, quá trình phát triển này cũng tiềm ẩn những thách thức, rủi ro mà một phần không nhỏ trong số đó do chính các thành viên tham gia thị trường gây ra. Để đối phó với những bước chuyển nhiều tiềm năng nhưng cũng không ít thách thức đó, hoạt động giám sát trên cơ sở rủi ro đã được các cơ quan quản lý thị trường thiết lập nhằm bảo đảm bảo kiểm soát một cách thích hợp các rủi ro phát sinh trong điều kiện nguồn lực có hạn.

Tại Việt Nam, từ giai đoạn 2008 đến nay, ảnh hưởng từ khủng khoảng tài chính thế giới vẫn còn tiếp diễn ở một số công ty chứng khoán. Do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, một số công ty chứng khoán sau nhiều năm vẫn không thể khắc phục tình trạng lỗ lũy kế mà còn rơi vào tình trạng thua lỗ, mất khả năng thanh khoản và phải nằm trong diện cảnh báo đặc biệt. Về phần cơ quan quản lý, biện pháp giám sát chủ yếu được áp dụng hiện nay vẫn là giám sát trên cơ sở tuân thủ, phụ thuộc vào việc rà soát các giao dịch và lịch sử hoạt động kinh doanh.

Năm 2020 là năm đánh dấu sự kiện thông qua Luật Chứng khoán mới, đóng góp một phần to lớn trong công tác hoàn thiện khung pháp lý đối với thị trường chứng khoán nói chung và hoạt động giám sát công ty chứng khoán nói riêng. Với những bước tiến và thay đổi mới trong Luật, việc giám sát các công ty chứng khoán sẽ phải thay đổi để phù hợp hơn và đáp ứng được sự phát triển chung của thị trường chứng khoán trong giai đoạn mới. Đây chính là tiền đề cho nhóm nghiên cứu triển khai đề tài “Ứng dụng hệ thống giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các công ty chứng khoán tại Việt Nam”.

2.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Đề tài tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá các phương pháp giám sát công ty chứng khoán hiện nay và nghiên cứu các phương pháp theo kinh nghiệm quốc tế phù hợp với đặc thù của Việt Nam; qua đó, đề xuất xây dựng mô hình và các công cụ giám sát công ty chứng khoán dựa trên cơ sở rủi ro nhằm đạt mục tiêu: sử dụng tối đa hiệu quả nguồn lực giám sát đối với cơ quan quản lý, từ đó giảm thiểu được chi phí cho ngân sách trong việc giám sát; đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động của công ty, từ đó phân bổ nguồn lực phù hợp để đạt được hiệu quả giám sát cao; chẩn đoán sớm được các rủi ro trong các hoạt động và hạn chế các sai phạm công đáng có của công ty chứng khoán...

2.3 Nội dung đề tài:

Chương I: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về giám sát trên cơ sở rủi ro.

Chương II: Thực trạng giám sát công ty chứng khoán tại Việt Nam

Chương III: Giải pháp triển khai giám sát công ty chứng khoán dựa trên cơ sở rủi ro.


II. CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Chuyên đề CĐ.20.01: Giám sát giao dịch chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant – CW)

Chủ nhiệm:  Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hương

Đơn vị chủ trì:   Vụ Giám sát thị trường

1.1. Tính cấp thiết của chuyên đề

Đi cùng xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán, nhu cầu về các sản phẩm mới đã trở nên cấp thiết, đặc biệt là các sản phẩm với nhiều tính năng và lợi ích đa dạng, đáp ứng cho nhiều phân khúc nhà đầu tư. Trong bối cảnh thị trường trường chứng khoán có nhiều biến động và cấu trúc hàng hóa trên thị trường chưa hoàn chỉnh, sự ra đời sản phẩm chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant) với nhiều ưu điểm vượt trội cũng như khả năng phòng hộ rủi ro, đang nhận được sự kỳ vọng lớn của nhà đầu tư và các thành viên thị trường tại Việt Nam.

Ngày 26/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ 1/9/2015, trong đó đã bổ sung thêm định nghĩa về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm và các điều kiện để trở thành tổ chức phát hành chứng quyền, tạo dựng hành lang pháp lý cho việc phát hành và giao dịch chứng quyền tại Việt Nam. Thông tư số 107/2016/TT-BTC Hướng dẫn chào bán và giao dịch Chứng quyền có bảo đảm đã được Bộ Tài chính ký ban hành vào ngày 29/06/2016 và có hiệu lực vào ngày 01/01/2017.

Dưới góc độ quản lý nhà nước, bên cạnh vai trò cấp phép phát hành chứng quyền có bảo đảm thì vấn đề giám sát giao dịch của cơ quan quản lý, bao gồm giám sát sản phẩm cơ sở (cổ phiếu) và giám sát chứng quyền dựa trên cổ phiếu đó, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi mà chứng quyền có bảo đảm đã được phát hành trong quý 2/2019 và hiện đang được giao dịch trên thị trường. Chuyên đề “Giám sát giao dịch chứng quyền có bảo đảm” được thực hiện với mục đích nghiên cứu và đề xuất cách thức giám sát sản phẩm này dựa trên những đặc trưng về cơ chế vận hành, giao dịch, tính chất đòn bẩy cũng như rủi ro của nó; qua đó đảm bảo thị trường phát triển công khai, minh bạch và bảo vệ nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề

Chứng quyền có bảo đảm là một sản phẩm mới, lần đầu tiên được triển khai tại Sở giao dịch chứng khoán TPHCM, hiện tại chưa có đầy đủ dữ liệu giao dịch thực tế để đo lường mức độ tác động qua lại giữa chứng quyền có bảo đảm và tài sản cơ sở cũng như xác định các đặc điểm hành vi giao dịch chứng quyền có bảo đảm của nhà đầu tư. Vì vậy, nghiên cứu này tập trung tìm hiểu cơ chế giao dịch chứng quyền có bảo đảm, cách thức phát hiện các hành vi thao túng giá dựa trên mối liên hệ chặt chẽ giữa biến động giá của chứng quyền có bảo đảm và tài sản cơ sở để có thể đưa ra các cảnh báo kịp thời và tăng cường khả năng giám sát đối với sản phẩm mới..

1.3. Kết cấu của chuyên đề gồm 2 chương:

Chương I: Giới thiệu về hoạt động giám sát chứng quyền có bảo đảm

Chương II: Hoạt động giám sát giao dịch chứng quyền có bảo đảm và một số phương pháp giám sát giao dịch áp dụng cho chứng quyền

2. Chuyên đề CĐ.20.02 Ứng dụng của “robo advisors” trong lĩnh vực tư vấn đầu tư chứng khoán và khuyến nghị chính sách với Việt Nam.

Chủ nhiệm:  Thạc sỹ Nguyễn Hải Nam

Đơn vị chủ trì:   Vụ Quản lý Quỹ

2.1. Tính cấp thiết của chuyên đề

Lĩnh vực tư vấn tài chính đã có những thay đổi mạnh mẽ trong 10 năm gần đây với sự ra đời và phát triển của dịch vụ tư vấn tự động – “robo advisors”. “Robo advisors” là nền tảng dịch vụ trực tuyến, tự động có sử dụng các thuật toán máy tính (computer algorithms) để cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và quản lý danh mục đầu tư của khách hàng. Cách thức mà “robot advisors” cung cấp dịch vụ cho khách hàng là: tổng hợp thông tin khách hàng nhằm đánh giá khẩu vị rủi ro, mục tiêu tài chính và sở thích đầu tư, từ đó các “robo advisors” đưa ra một số danh mục đầu tư phù hợp nhất cho nhà đầu tư lựa chọn.

Trên thế giới, hoạt động “robo advisors” ngày càng phát triển. Phần lớn các “robo advisors” tập trung ở thị trường Mỹ với tổng tài sản quản lý chiếm 76% tổng tài sản quản lý của toàn thế giới, tiếp theo là đến Trung Quốc, Anh, Đức, Canada. Singapore và Hàn Quốc cũng là những nước có tiềm năng phát triển lĩnh vực này ở khu vực Châu Á.

Tại Việt Nam, theo Quyết định 242/2019/QĐ-TTg, một trong những giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý được đề cập là “ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn: Hoạt động giao dịch trực tuyến, giao dịch tự động (online-trading), quản lý danh mục tự động (AI asset management), tư vấn tự động (robo-advisory); số hóa các tài sản tài chính trên thị trường chứng khoán áp dụng công nghệ tài chính mới (Fintech)”. Thực tế ở Việt Nam, trong lĩnh vực chứng khoán đã có một số CTCK, CTQLQ triển khai “robo advisors” với mức độ phức tạp khác nhau của sản phẩm.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu về “robo advisors” trên các khía cạnh như cơ chế hoạt động, ưu điểm/ nhược điểm, tiềm năng và thách thức đặt ra với hoạt động tư vấn tài chính truyền thống có ý nghĩa quan trọng đối với việc nắm bắt và ứng dụng hiệu quả công nghệ tài chính (fintech) trong lĩnh vực chứng khoán, đồng thời tạo nền tảng cho việc thiết kế, xây dựng chính sách quản lý phù hợp.

2.2. Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề

Nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của “robo advisors” trong lĩnh vực tư vấn đầu tư chứng khoán trên thế giới; những ưu điểm và thách thức đặt ra khi ứng dụng “robo advisors”.

Thực tiễn ứng dụng “robo advisors” và khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán thông qua “robo advisors” ở một số nước như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore….

Đánh giá thực trạng ứng dụng “robo advisors” tại một số CTCK, CTQLQ tại Việt Nam và khuyến nghị về chính sách quản lý hoạt động tư vấn đầu tư tự động – “robo advisors” tại Việt Nam.

2.3. Kết cấu của chuyên đề

Chương I: Tổng quan về “robo advisors” trong lĩnh vực tư vấn đầu tư chứng khoán.

Chương II: Ứng dụng của “robo advisors” và cơ chế quản lý hoạt động “robo advisors” trong lĩnh vực tư vấn đầu tư chứng khoán của một số nước trên thế giới.

Chương III: Khuyến nghị chính sách quản lý “robo advisors” trong lĩnh vực tư vấn đầu tư chứng khoán tại Việt Nam.

3. Chuyên đề CĐ.20.03 Ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chủ nhiệm:    Thạc sỹ Đặng Ngọc Hoài

Đơn vị chủ trì:   Vụ Giám sát Công ty đại chúng  

3.1. Tính cấp thiết của chuyên đề

Theo số liệu từ Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã cho phép áp dụng IFRS dưới các hình thức khác nhau. Các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO)... đều hỗ trợ các quốc gia áp dụng IFRS, đảm bảo các doanh nghiệp áp dụng chuẩn mực thống nhất trong việc lập báo cáo tài chính. Đối với Việt Nam, Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho rằng các chuẩn mực kế toán Việt Nam cần thống nhất với IFRS để thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài. Đề án cơ cấu lại TTCK và thị trường bảo hiểm đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 ban hành kèm theo Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ cũng đề cập đến việc “xây dựng, triển khai Đề án áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế; khuyến khích các doanh nghiệp niêm yết có quy mô lớn thực hiện công bố báo cáo tài chính theo chuẩn báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)” như một trong những giải pháp nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng hàng hóa trên TTCK. Rõ ràng, việc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đối với các tổ chức niêm yết trên TTCK Việt Nam là hết sức cần thiết, không chỉ với bản thân các doanh nghiệp mà còn đem lại lợi ích cho cả nền kinh tế Việt Nam ở tầm vĩ mô, góp phần thực hiện mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam.

Tuy nhiên, việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế (IFRS) của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do kỹ thuật chuẩn mực phức tạp, thiếu các hướng dẫn cụ thể, và một số nguyên nhân khác như yếu tố ngôn ngữ, hạ tầng cơ sở thông tin, chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ kế toán tại các doanh nghiệp.... Chuyên đề “Ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” được thực hiện nhằm đánh giá lại một cách toàn diện những vướng mắc này và nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khắc phục tình trạng trên, qua đó thúc đẩy việc áp dụng IFRS một cách hiệu quả ở các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam.

3.2. Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế của Malaysia, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc... trong việc ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Đánh giá thực trạng, kết quả đạt được cũng như những khó khăn của việc ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Khuyến nghị về các bước cần chuẩn bị để doanh nghiệp lập báo cáo tài chính theo IFRS, và việc ứng dụng trên thị trường chứng khoán Việt Nam; đưa ra các kiến nghị, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

3.3. Kết cấu của chuyên đề

Chương I: Cơ sở lý luận việc ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Chương II: Thực trạng việc ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Các tin khác