Skip to content
Phát triển các sản phẩm tài chính bền vững
Thúc đẩy vai trò của các bên tham gia thị trường tài chính bền vững
276
15/10/2021

Việc chuyển đổi sang tài chính bền vững (TCBV) đang trở thành vấn đề được ưu tiên cao không chỉ đối với các doanh nghiệp mà cả các cơ quan tổ chức kinh doanh toàn cầu, Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách nhanh chóng nghiên cứu cơ chế hỗ trợ và khuyến khích đầu tư vào các hoạt động carbon thấp. TCBV thường đề cập đến quá trình cân nhắc về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) khi đưa ra quyết định đầu tư trong lĩnh vực tài chính, dẫn đến tăng đầu tư dài hạn vào các hoạt động và dự án kinh tế bền vững. TCBV thông qua lăng kính ESG giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư tốt hơn. Các tổ chức hạ tầng thị trường được coi là một trong những đòn bẩy hữu hiệu thông qua các quy định phát hành, niêm yết, công bố thông tin (CBTT) minh bạch… giúp nhà đầu tư tiếp cận thông tin đầy đủ, khách quan về các sản phẩm TCBV.

T

CBV là một khái niệm đang phát triển và là mô hình tài chính mới, được giải thích là tài chính có xem xét các yếu tố ESG khi ra quyết định đầu tư. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2019) cho rằng “Tổn thất do rủi ro liên quan đến khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống tài chính, thông qua việc giảm giá trị tài sản thế chấp và bảo lãnh các khoản lỗ, và gián tiếp làm tăng trưởng kinh tế thấp hơn, điều kiện tài chính thắt chặt hơn”.

"Chương trình Nghị sự 2030 về phát triển bền vững - PTBV" của Liên hợp quốc được đề cập tại Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ gồm 17 Mục tiêu PTBV (gọi tắt là SDG) được lồng ghép và liên kết với nhau. Điều này có nghĩa là các SDG và hiệu quả của các chính sách được thực hiện để đạt được từng mục tiêu cũng có mối quan hệ với nhau. Sự tương tác xảy ra giữa các SDG có thể cả tích cực và tiêu cực, thường phụ thuộc vào các yếu tố chính như bối cảnh địa lý, nguồn lực tài nguyên, thời gian và quản trị. Để đạt được các mục tiêu PTBV, cần phải có tài chính. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng các nước đang phát triển phải đối mặt với khoảng cách tài trợ trung bình hàng năm khoảng 2,6 nghìn tỷ USD cho đầu tư vào y tế, giáo dục, đường sá, điện, nước và vệ sinh. Đối với các nước đang phát triển có thu nhập thấp, điều này có nghĩa là chi tiêu bổ sung hàng năm có thể lên tới 15% GDP (Liên hợp quốc, 2019).

TCBV đề cập đến việc thực hành kết hợp các yếu tố ESG vào quá trình ra quyết định tài chính. Đối với các nhà đầu tư, điều này có nghĩa là nghiên cứu và mua chứng khoán mà tiền thu được sẽ giúp giảm thiểu rủi ro ESG quan trọng và/hoặc tận dụng các cơ hội ESG. Đối với các tổ chức phát hành, điều này có nghĩa là bán chứng khoán cho các dự án với số tiền thu được dành cho các dự án năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng... Sở thích hay khẩu vị của nhà đầu tư và mục tiêu của tổ chức phát hành liên quan đến TCBV có thể khác nhau, và chúng tạo thành một thị trường ngày càng phát triển bao gồm các giải pháp tài chính cho từng dự án, các sáng kiến hoạt động (hiệu quả năng lượng), tín dụng (các khoản vay kèm theo lợi ích định giá), và các sản phẩm chứng khoán hóa.

Các sản phẩm TCBV

Mặc dù thị trường tài chính biến động mạnh vào năm 2020, thị trường đầu tư bền vững vẫn đang mở rộng ổn định, thể hiện qua số lượng các sản phẩm mới theo chủ đề bền vững, lượng dòng vốn mới và số lượng các sáng kiến mới được phát triển bởi các sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), cơ quan quản lý (CQQL) thị trường chứng khoán (TTCK), chủ sở hữu tài sản và các nhà quản lý, và các tác nhân thị trường khác. Những nỗ lực toàn cầu nhằm chống lại đại dịch và biến đổi khí hậu đang đà đẩy nhanh. UNCTAD2 ước tính giá trị của các sản phẩm đầu tư bền vững trên thị trường vốn toàn cầu lên tới 3,2 nghìn tỷ USD vào năm 2020, tăng hơn 80% so với năm 2019. Các sản phẩm này bao gồm quỹ bền vững (hơn 1,7 nghìn tỷ USD), trái phiếu xanh (hơn 1 nghìn tỷ USD), trái phiếu xã hội (212 tỷ USD) và trái phiếu bền vững hỗn hợp (218 tỷ USD). Sự tăng trưởng liên tục tái khẳng định tiềm năng của thị trường sản phẩm TCBV góp phần thu hẹp khoảng cách tài chính cho các SDG.

Thị trường trái phiếu bền vững (bao gồm trái phiếu xanh, trái phiếu xã hội và trái phiếu bền vững hỗn hợp) tăng trưởng trong mỗi quý của năm 2020, từ dưới 70 tỷ USD trong quý I lên gần 180 tỷ USD trong quý IV, được thúc đẩy bởi việc phát hành trái phiếu bền vững do các tổ chức quốc gia và siêu quốc gia và các tập đoàn đã tài trợ cho các nỗ lực cứu trợ trong đại dịch. Mức tăng lớn nhất được thấy trong thị trường trái phiếu xã hội, với mức tăng gấp 10 lần lên 164 tỷ USD vào năm 2020. Trái phiếu bền vững đang nhanh chóng bắt kịp với phân khúc trái phiếu xanh và ngày càng trở thành công cụ phổ biến để tài trợ cho các hoạt động liên quan đến SDG. Tính lũy kế, tổng lượng trái phiếu bền vững đang lưu hành ước tính khoảng 1,5 nghìn tỷ USD. Mặc dù tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 67% và quy mô đáng kể về mặt tuyệt đối, thị trường trái phiếu bền vững vẫn còn rất tiềm năng trong giai đoạn tăng trưởngban đầu, hiện chỉ chiếm khoảng 1,3% tổng thị trường trái phiếu toàn cầu (khoảng 119 nghìn tỷ USD). Điều này cho thấy tiềm năng tăng trưởng rất lớn cho phân khúc này trong tương lai. Trong 5 năm tới, thị trường trái phiếu bền vững có thể kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn nữa khi các nhà đầu tư và tổ chức phát hành ngày càng tin tưởng vào các sản phẩm đầu tư này. Ước tính đến năm 2025, thị trường trái phiếu bền vững có thể đạt 5% tổng thị trường toàn cầu, mang lại hơn 6 nghìn tỷ USD nguồn lực mới cho các lĩnh vực SDG.

 

Giao dịch tại SGDCK và Sở giao dịch phái sinh

Các SGDCK và Sở giao dịch phái sinh (SGDPS) ảnh hưởng đến tính bền vững trên thị trường thông qua ảnh hưởng đến hành vi ESG của doanh nghiệp và quảng bá các sản phẩm tài chính bền vững. Các SGDPS có thể đóng góp thông qua các sản phẩm phái sinh phù hợp với tính bền vững, các sản phẩm dữ liệu ESG và nâng cao tính minh bạch. Các SGDCK đóng góp thông qua một loạt các cơ chế như ban hành các quy chế hướng dẫn tổ chức phát hành, các quy định CBTT ESG đã tăng nhanh chóng, từ 13 quy định năm 2015 lên 56 quy định liên quan đến SDG năm 2020. Số lượng SGDCK thực hiện đào tạo về các chủ đề ESG cho tổ chức phát hành và nhà đầu tư cũng tiếp tục tăng, với hơn một nửa SGDCK cung cấp ít nhất một khóa đào tạo. Cơ sở dữ liệu của các SGDCK bền vững của Liên hợp quốc chứa dữ liệu về 106 SGDCK trên toàn thế giới, hơn 53.000 công ty niêm yết với giá trị vốn hóa thị trường hơn 88 nghìn tỷ USD. Xu hướng tăng này dự kiến sẽ tiếp tục do sự quan tâm của nhà đầu tư đối với các sản phẩm theo chủ đề ESG ngày càng mạnh mẽ, các chính sách công nhằm thúc đẩy phát triển bền vững (PTBV) được tăng cường ở một số khu vực pháp lý và nhiều SGDCK nhận thấy vai trò quan trọng của họ trong việc thúc đẩy đầu tư vào PTBV.

Trong khi vai trò của SGDCK đối với sự PTBV đã được rõ nét trong thập kỷ qua, thì vai trò tiềm năng của các SGDPS còn khá mờ nhạt, với gần 35 tỷ hợp đồng tương lai và quyền chọn đã được giao dịch trên toàn cầu vào năm 2019 nhưng số lượng hợp đồng liên quan đến sản phẩm TCBV chưa thực sự thấy dấu ấn. Chính vì vậy, đầu năm 2021, các SGDCK bền vững của Liên hợp quốc và Liên đoàn các Sở Giao dịch Thế giới (WFE) đã đưa ra chương trình hành động cho các SGDPS nhằm đóng góp vào sự PTBV.

 

Sức hấp dẫn ngày càng tăng của các quỹ bền vững

Theo Morningstar, tài sản do các quỹ niêm yết quản lý đạt 1.650 tỷ USD vào cuối năm 2020. Điều đó tương ứng với mức tăng 29%, so với cùng thời điểm năm trước. Châu Âu đang dẫn dắt thị trường toàn cầu với tổng giá trị tài sản được quản lý là 1.100 tỷ USD vào cuối năm 2020, chiếm hơn 80% tổng tài sản toàn cầu. Trong 5 năm qua, ngành quỹ đã nhanh chóng nắm bắt tính bền vững thông qua việc nhân rộng các quỹ và chỉ số dành riêng cho các chủ đề bền vững. Các quỹ bền vững bao gồm quỹ tương hỗ và quỹ hoán đổi (ETF) tự mô tả trong bản cáo bạch hoặc các hồ sơ khác khi lựa chọn tài sản tích hợp các yếu tố bền vững, tác động hoặc ESG. Tổng số quỹ đầu tư bền vững đã đạt 3.987 quỹ vào tháng 6/2020, tăng 30% so với năm 2019, khoảng một nửa tổng số quỹ bền vững được ra mắt trong 5 năm qua. Tài sản đang quản lý (Assets Under Management- AUM) của các quỹ bền vững tăng gấp bốn lần trong 5 năm qua; chỉ riêng năm ngoái, con số này đã tăng gần gấp đôi, từ khoảng 900 tỷ USD vào năm 2019 lên hơn 1,7 nghìn tỷ USD trong năm 2020. Tuy nhiên, con số này chỉ chiếm 3,3% tổng tài sản quỹ mở trên toàn thế giới. Điều đó cho thấy tiềm năng to lớn và chặng đường dài phía trước đối với sự phát triển của các quỹ bền vững.

Phần lớn các quỹ bền vững được đặt ở châu Âu (gần 73%), tiếp theo là Bắc Mỹ (18%), với các khu vực khác, bao gồm cả các nước đang phát triển, chiếm dưới 10% quỹ. Các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi cho đến nay hầu như vẫn vắng bóng trên thị trường quỹ bền vững, chỉ nắm giữ khoảng 5% các quỹ bền vững trên thế giới theo số lượng và ít hơn 3% theo tài sản, mặc dù TTCK ở các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi chiếm khoảng 23% vốn hóa thị trường toàn cầu. Điều này cho thấy rằng các nền kinh tế đang phát triển có tiềm năng phát triển đáng kể thị trường quỹ bền vững, theo đó cần có những giải pháp mạnh, tác động thực sự của các sản phẩm đầu tư bền vững, nâng cao uy tín bằng cách cải thiện tính minh bạch, mở rộng nội dung báo cáo không chỉ về các vấn đề ESG mà còn về tác động khí hậu và sự liên kết SDG. Điều quan trọng là, để tối đa hóa tác động đến PTBV, cần nhiều quỹ đầu tư hơn vào các nền kinh tế đang phát triển.

Các nhà đầu tư tổ chức và các nhà cung cấp dịch vụ tài chính có vị trí vững chắc để tạo ra những thay đổi theo hướng bền vững thông qua hai con đường: (i) phân bổ tài sản - chọn sản phẩm đầu tư vốn có thể có tác động quyết định đến công ty và thị trường; và (ii) quyền sở hữu chủ động - ảnh hưởng đến các chính sách của các công ty mà họ đầu tư thông qua các cơ chế quản trị công ty.

Đặc biệt, bốn nhóm nhà đầu tư tổ chức có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đầu tư bền vững, gồm: hai nhóm đầu tiên, quỹ hưu trí và quỹ đầu tư quốc gia (sovereign wealth funds- SWF) được quản lý tài sản toàn cầu đang sở hữu 52 nghìn tỷ USD và tương ứng là 9,2 nghìn tỷ USD vào năm 2021. Hai nhóm tiếp theo là công ty bảo hiểm và ngân hàng, quản lý tài sản nhưng chủ yếu cung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng dưới dạng các sản phẩm và khoản vay quản lý rủi ro. Tài sản có thể đầu tư của các công ty bảo hiểm đạt 32,9 nghìn tỷ USD vào năm 2018 và của các ngân hàng đạt 155 nghìn tỷ USD vào năm 2019.

Ảnh hưởng tiềm tàng đến tính bền vững của doanh nghiệp của các quỹ hưu trí và SWF là rất lớn. Hơn 40% tài sản quỹ (hơn 60 nghìn tỷ USD) được đầu tư vào các cổ phiếu niêm yết đại chúng, khiến họ trở thành “chủ sở hữu chung” với cổ phần lớn trong các công ty trên nhiều lĩnh vực và thị trường. Với các nghĩa vụ dài hạn, quỹ hưu trí có vị thế tốt hơn để đánh giá rủi ro dài hạn đối với danh mục đầu tư và bản chất giữa các thế hệ của mô hình kinh doanh có xu hướng phản ứng nhanh hơn với các vấn đề liên quan đến ESG và SDG. Do đó, từ phía các nhà đầu tư tổ chức lớn này đã nhận ra rằng các yếu tố ESG cấu thành rủi ro trọng yếu. Tuy nhiên, các quỹ hưu trí có thể làm nhiều hơn nữa để thúc đẩy tính bền vững. Theo báo cáo của UNCTAD, trong số 50 quỹ hưu trí đại chúng lớn nhất thế giới và 30 SWF lớn nhất, chỉ có 16 quỹ hưu trí đại chúng và 4 SWF đã thực hiện công bố báo cáo đầu tư bền vững hoặc có trách nhiệm từ năm 2019. Về cơ bản, danh mục quỹ hưu trí đại chúng phần lớn bỏ qua các thị trường các nước đang phát triển, điều này hạn chế sự đóng góp vào PTBV. Trong khi đó, các SWF duy trì các nguyên tắc và tiêu chuẩn đầu tư có trách nhiệm, chẳng hạn như Nguyên tắc đầu tư có trách nhiệm trong nông nghiệp, bảo vệ quyền của các cổ đông thiểu số và các bên liên quan. Chính phủ các nước cần xem xét lại nhiệm vụ của các quỹ để tạo không gian cần thiết đầu tư ra nước ngoài vào các tài sản và hoạt động sản xuất.

Biến đổi khí hậu là một rủi ro mang tính hệ thống đối với thế giới. Tổng thiệt hại kinh tế do thiên tai gây ra trên toàn cầu ước tính khoảng 202 tỷ USD vào năm 2020, tăng từ 150 tỷ USD vào năm 2019, với khoảng 190 tỷ USD do thảm họa thiên nhiên gây ra. Để đầu tư bền vững trở thành xu hướng chủ đạo, theo các chuyên gia tài chính, cần có các kỹ năng cần thiết và hiểu biết về cách tích hợp các cân nhắc của ESG trong các quyết định đầu tư và khi tư vấn cho khách hàng. Bất kỳ tổ chức tài chính nào muốn cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực này cần phải có khóa đào tạo ESG bắt buộc cho các nhân viên có liên quan. Điều này sẽ cho phép nhân viên (chẳng hạn như cố vấn đầu tư) truyền bá kiến thức cho khách hàng và nâng cao nhận thức về cách đầu tư mới này bằng cách lồng ghép trong các sự kiện có liên quan. Đào tạo ESG cũng sẽ rất cần thiết cho các nhân viên cấp trung và bộ phận hỗ trợ cần chịu trách nhiệm về việc CBTT, báo cáo và quản lý rủi ro liên quan đến tính bền vững. Đồng thời, chú trọng hơn đến các vấn đề ESG khi các nhà đầu tư tổ chức phát huy ảnh hưởng và tạo kênh quỹ hướng tới các khoản đầu tư mang lại những lợi ích phi tài chính có thể đo lường được cùng với lợi nhuận tài chính dài hạn được cải thiện.

 

Tương lai của TCBV

Để tạo nền móng và phát huy tiềm năng vốn cho PTBV, cần giải quyết “ba thách thức”: (i) rủi ro thị trường, (ii) mất cân bằng đầu tư liên quan đến vị trí địa lý và (iii) các mối quan tâm về xanh hóa. Giải quyết những thách thức này đòi hỏi ba bước chuyển đổi cơ bản trong thị trường TCBV:

Thứ nhất, tăng cường đầu tư bền vững trên cơ sở hội nhập bền vững phải được lồng ghép trong tổng thể định hướng phát triển chung của ngành, lĩnh vực và bình diện quốc gia.

Thứ hai, chuyển đổi thị trường đầu tư bền vững từ các nước phát triển sang thị trường toàn cầu, mang lại lợi ích cho tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển.

Thứ ba, tăng cường độ tin cậy của xếp hạng và báo cáo bền vững với các tiêu chuẩn và phân loại mạnh mẽ phù hợp với các quy định, chuẩn mực quốc tế một cách chặt chẽ.

Sự chuyển đổi từ thị trường giao ngay sang thị trường tương lai, đòi hỏi nỗ lực phối hợp của tất cả các bên liên quan, bao gồm các tổ chức phát hành, các nhà đầu tư tổ chức, các SGDCK và các cơ quan quản lý khuyến khích tích hợp các yếu tố ESG vào các sản phẩm và chỉ số chính. Các quy tắc và hướng dẫn để thiết lập các tiêu chuẩn ngành và các yêu cầu quản trị nhằm mục đích mang lại sự minh bạch, khả năng dự đoán và độ tin cậy cho thị trường đang vượt ra ngoài các biện pháp tự nguyện, các quy định đang giúp định hình các đường nét trong tương lai của thị trường đầu tư bền vững. Nỗ lực đẩy nhanh tiến độ đạt được các mục tiêu PTBV, đáp ứng các cam kết về biến đổi khí hậu và cung cấp tài chính cho phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh ứng phó phục hồi sau đại dịch.

Các bài viết khác: