Skip to content
Diễn đàn chứng khoán
Cải cách chính sách thuế trong lĩnh vực chứng khoán – Góc nhìn từ xu hướng quốc tế
276
15/10/2021

Trước sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) cũng như hội nhập quốc tế về tài chính, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những bước đi cụ thể nhằm cải cách chính sách thuế (CST), đặc biệt là các quốc gia có TTCK phát triển. Các cải cách tập trung vào việc thay đổi cách tiếp cận về TTCK, phương thức giao dịch, mức thu thuế, cũng như xây dựng tính kết nối của hệ thống thuế quốc gia với thế giới. TTCK Việt Nam đang phát triển và hội nhập mạnh mẽ, do vậy xu hướng cải cách CST trên TTCK thế giới sẽ là những gợi ý tốt cho việc đổi mới của TTCK Việt Nam trong thời gian tới.

1. CST có tác động mạnh tới TTCK

Thuế là công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm động viên các nguồn thu từ xã hội vào ngân sách để đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu, đồng thời là công cụ điều tiết nền kinh tế hướng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. TTCK là nơi trao đổi, mua bán các loại chứng khoán3 hay các giấy tờ có giá. TTCK có 4 chủ thể tham gia, bao gồm: chủ thể phát hành (chính phủ, các doanh nghiệp, các quỹ đầu tư); các nhà đầu tư (cá nhân và tổ chức); các cơ quan quản lý thị trường; và công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán (Nguyễn Thị Minh Huệ, Lê Thị Hương Lan, 2019). Thuế trên TTCK là các quy định liên quan đến nghĩa vụ đóng góp của các tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động giao dịch trên thị trường. Các loại thuế liên quan chủ yếu đến TTCK bao gồm: (i) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của các chủ thể phát hành, các nhà đầu tư là tổ chức (tồn tại dưới hình thức các công ty quản lý quỹ), và các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán; (ii) Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) của các nhà đầu tư là cá nhân trong và ngoài nước tham gia trao đổi, mua bán chứng khoán; (iii) Thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với người mua là các tổ chức, cá nhân. Các quy định về thuế thay đổi theo từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau, phụ thuộc vào CST của từng thời kỳ. Chính sách này do nhà nước xây dựng và triển khai căn cứ vào điều kiện thực tế, sự biến động của thị trường trong nước và quốc tế cũng như mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung, của TTCK và của lĩnh vực thuế nói riêng.

Hiện nay, khi đánh giá tác động của thuế đến TTCK vẫn có nhiều quan điểm, dựa trên các kết quả nghiên cứu khác nhau. Các nghiên cứu của Pomaranets và Weaver (2011) dựa trên kiểm tra sự thay đổi đối với các giao dịch trên thị trường New York, Umlauf (1993) trên TTCK Thụy Điển vào những năm 1980, Johns và Seguin (1997), Baltagi, Li và L (2006) đưa ra minh chứng trên TTCK Trung Quốc, chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa thuế (chuyển nhượng) và biến động của TTCK. Trong khi nghiên cứu của Liu và Zhu (2009) chứng minh thông qua tỷ lệ hoa hồng trên TTCK Nhật Bản lại cho kết quả ngược lại. Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Roll (1989), Saporta và Khan (1997), Hu (1998), Phylaktis và Aistidou (2007), Sahu (2008) kiểm tra biến động lợi nhuận cổ phiếu tại 23 quốc gia trên thế giới lại đưa đến kết luận không có bằng chứng nào cho thấy mối liên quan giữa biến động của TTCK với việc áp thuế trên thị trường.

Như vậy, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng thuế trên TTCK có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của thị trường này, đặc biệt là trong dài hạn. Ngoài việc điều tiết thu nhập của các cá nhân tham gia trên TTCK (như thuế TNCN, thuế TNDN của các nhà đầu tư, các công ty), các sắc thuế còn giúp đánh giá, giám sát và hoàn thiện TTCK. Các giao dịch trên thị trường, khi được đánh thuế, sẽ đảm bảo phân phối thu nhập của các cá nhân, của doanh nghiệp cho các đối tượng khác trong nền kinh tế; cũng như giúp chính phủ có một nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Nguồn thu này sẽ lại tiếp tục đầu tư để phát triển thị trường. Những ảnh hưởng của CST đến TTCK theo hướng tích cực hay tiêu cực phụ thuộc vào cách thức điều hành, quản lý của mỗi quốc gia.

Thực tế, hiện nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều áp thuế trên TTCK với các mức thuế khác nhau được thiết kế phù hợp với đặc điểm, điều kiện và chiến lược phát triển của từng nước. Việc áp các loại thuế trên TTCK tại các quốc gia thường nhằm đạt được 02 mục tiêu cơ bản: (i) Tăng thu cho ngân sách, đặc biệt trong bối cảnh thị trường này đang có sự phát triển mạnh mẽ; (ii) Việc áp thuế có thể giúp ngăn chặn được các hiện tượng đầu cơ tiềm tàng, gây bất ổn thị trường (Nguyễn Thanh Huyền, 2014). Bên cạnh đó còn là mục tiêu điều tiết thị trường và kiểm soát giao dịch.

Các CST thay đổi theo từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm của Nhà nước trong việc động viên nguồn thu vào ngân sách cũng như điều tiết kinh tế vĩ mô. Một hệ thống thuế tốt cần đảm bảo các yêu cầu: tính hiệu quả, tính linh hoạt, tính minh bạch, tính công bằng. Theo đó, CST cần đảm bảo mang lại lợi ích (trong dài hạn) cho các chủ thể liên quan và cho nền kinh tế, mặc dù trong một số trường hợp nó có thể gây tổn hại cho một hoặc một nhóm đối tượng, hoặc tổn hại trong một thời gian nhất định. Một hệ thống thuế tốt phải đảm bảo cơ chế linh hoạt ở cả hai mặt để các quy luật thị trường chi phối trong một môi trường thông thường và cũng để cho Nhà nước có thể can thiệp khi cần thiết mà không gây xáo trộn cả hệ thống. Minh bạch phải tính đến từ việc công khai các nội dung cam kết quốc tế về thuế cho tất cả các đối tượng nộp thuế và công dân được biết để họ có thể tính toán và thực hiện nghĩa vụ của mình. Tính công bằng trong hệ thống thuế chỉ mang tính tương đối khi các hiện tượng công bằng rồi sẽ trở nên bất công và xã hội sẽ lại thiết lập một sự công bằng mới ở mức độ nhận thức cao hơn, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.

 

2. Xu hướng cải cách thuế trong lĩnh vực chứng khoán

Thời gian qua, trước sự thay đổi mạnh mẽ của các nhân tố liên quan trên TTCK, Chính phủ các nước đã có nhiều thay đổi trong CST áp dụng cho thị trường. Sự thay đổi này là tất yếu để tạo sự phù hợp, tương thích của chính sách với thực tế thị trường. Trong số nhiều áp lực, có thể nhắc đến 03 áp lực chính dẫn đến những thay đổi trong CST bao gồm:

Một là, sự phát triển của các công cụ mới trên TTCK. Không chỉ bao hàm các công cụ về nợ và vốn như trái phiếu, cổ phiếu; hoặc các hàng hóa phái sinh, các giao dịch về chứng khoán đảm bảo bằng tài sản cũng đang dần khiến cho TTCK trở nên sôi động. Các giao dịch này tạo ra thu nhập đáng kể cho các nhà đầu tư cá nhân cũng như các doanh nghiệp. Một nguyên tắc được nêu ra trong khá nhiều diễn đàn rằng: khi có GTGT thì cần phải nộp thuế. Ngoài ra, các doanh nghiệp tạo ra doanh thu hoặc lợi nhuận trước thuế cũng cần cân nhắc đến vấn đề phải nộp thêm thuế cho Nhà nước, dù cách này hay cách khác. Điều tất yếu là sẽ có những giao dịch bất thường nhằm tránh các khoản mục thuế này. Và nó tạo ra áp lực đầu tiên buộc các quốc gia như Mỹ, khu vực châu Âu hay các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) phải cải cách CST trên một vùng rộng lớn.

Hai là, các hoạt động giao dịch xuyên biên giới. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tài chính thực tế đã giúp các giao dịch này diễn ra ngày càng mạnh mẽ về cả số lượng, cường độ cũng như tần suất. Các giao dịch trên tất yếu liên quan đến nhiều đối tượng tại các quốc gia khác nhau, do vậy có thể chịu sự điều chỉnh của các luật thuế tại nhiều quốc gia. Vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý thuế là làm thế nào để thu được thuế và tránh trùng thuế. Đây là vấn đề đặt biệt gây khó khăn cho các quốc gia đang phát triển khi bị giới hạn với điều kiện khoa học, kỹ thuật, trong khi hệ thống pháp luật chưa theo kịp diễn biến của thị trường.

Ba là, khả năng điều tiết thị trường. Điều chỉnh cơ cấu nhà đầu tư giữa nhà đầu tư cá nhân với nhà đầu tư tổ chức, giữa thị trường chính thức và thị trường phi chính thức, giữa cổ phiếu với trái phiếu hay với các công cụ khác luôn cần phải được xem xét, đánh giá phù hợp nhằm đảm bảo khả năng phát triển bền vững, ổn định của TTCK. Với việc thay đổi mức thuế cho các đối tượng sẽ góp phần thực hiện xu hướng điều chỉnh theo quỹ đạo mà Nhà nước mong muốn. Theo quan điểm chung, để phát triển bền vững TTCK, việc tăng cơ cấu nhà đầu tư tổ chức, mở rộng thị trường chính thức là việc làm cần thiết, theo đó các sắc thuế sẽ hướng tới việc đánh thuế cao hơn khu vực tư nhân so với khu vực tổ chức, khu vực phi chính thức so với khu vực chính thức.

Việc cải cách CST có thể nhằm hướng đến nhiều mục tiêu, song thường được quan tâm chính ở các góc độ: (i) Phân phối lại thu nhập của cá nhân và tổ chức; (ii) Đảm bảo thu đúng và đủ; (iii) Thực hiện chức năng điều tiết thị trường; (iv) Tránh thu trùng thuế mà vẫn đảm bảo được tình trạng không gian lận thuế trên TTCK. Một số cải cách mà các quốc gia đã tập trung thực hiện trong thời gian qua bao gồm:

Thứ nhất, cải cách về các loại thuế liên quan đến doanh thu hoặc lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp kinh doanh trên TTCK. Các cải cách này thường được áp dụng tại Mỹ, khu vực châu Âu và OECD. Ngoài các khoản thuế phải nộp do lợi nhuận từ đầu tư, các doanh nghiệp sẽ nộp thêm các khoản mục liên quan đến chênh lệch giá cho thị trường, và thường chiếm khoảng 20% - 30% tùy từng nước.

Thứ hai, cải cách về thuế TNCN. Khi một cổ phiếu được giao dịch trên thị trường và được mua đi bán lại, nhà đầu tư sẽ phải nộp từ 20% - 40% chênh lệch giá, và các hoạt động này được trừ thẳng vào tài khoản của nhà đầu tư hoặc thông qua ngân hàng đầu tư hay công ty chứng khoán (CTCK). Thu nhập với cổ tức được tính với mức thuế thấp hơn, khoảng 5% - 10%. Các nước có quy định về thuế chuyển nhượng chứng khoán khác nhau đối với các loại thị trường khác nhau, thị trường chính thức có mức thuế thấp hơn so với thị trường phi chính thức, bên cạnh đó có sự phân biệt giữa nhà đầu tư tổ chức với nhà đầu tư cá nhân (thậm chí nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp khác với nhà đầu tư thông thường).

Thứ ba, cải cách trong việc tạo ra một hệ thống thuế giữa nhiều nước trên thế giới hoặc nhiều khu vực nhằm tránh đánh trùng thuế hoặc tạo ra lợi thế cho các nhà đầu tư trên TTCK. Các nước khi tham gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đều xây dựng chính sách thuế hướng tới việc không đánh trùng thuế đối với các nhà đầu tư từ các nước khác nhau khi tham gia trên TTCK. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) cũng đã áp dụng quy tắc này.

3. Thực trạng thuế trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số khuyến nghị

Tại Việt Nam, sau hơn 20 năm đi vào hoạt động, TTCK Việt Nam đã có sự tăng trưởng vượt bậc, đặc biệt là trong giai đoạn 2011 - 2020, khi vốn hóa TTCK Việt Nam đã tăng trưởng ở mức trung bình hơn 50%/năm. Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)4, đến hết tháng 7/2021, tổng giá trị vốn hóa TTCK Việt Nam đạt mức 7,83 triệu tỷ đồng, tỷ lệ vốn hóa thị trường/GDP đã tăng từ mức 0,3% GDP năm 2000 lên mức 126,72% GDP. Các hàng hóa giao dịch trên thị trường đa dạng, phù hợp với điều kiện của thị trường trong nước và xu hướng phát triển của thị trường thế giới, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng khoán phái sinh. Các phương thức giao dịch đa dạng, các nhà đầu tư bao gồm cả nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư tổ chức trong và ngoài nước (đến tháng 8/2021, số tài khoản các nhà đầu tư cá nhân trong nước là 3,6 triệu, trong khi có 3.083 tài khoản của nhà đầu tư cá nhân nước ngoài). Giống như các nước trên thế giới, đây cũng chính là các áp lực khiến hệ thống chính sách đối với TTCK của Việt Nam cần đổi mới, trong đó có CST.

Song hành với sự phát triển của TTCK, hệ thống CST trên TTCK cũng ngày càng hoàn thiện. Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành từ Luật, Nghị định, Thông tư đến các quyết định của cơ quan quản lý nhà nước về TTCK (Bộ Tài chính, UBCKNN, Ngân hàng Nhà nước) đã là cơ sở cho việc thực thi CST đối với TTCK. Đặc biệt là các quy định liên quan đến 2 sắc thuế quan trọng: thuế TNCN và thuế TNDN. Về cơ bản, chính sách thuế đang được áp dụng trên TTCK Việt Nam là phù hợp với các nguyên tắc chung liên quan đến bản chất của hoạt động tài chính, cũng như các yêu cầu đặt ra đối với hệ thống thuế. Hiện nay, thuế TNDN được áp dụng cho các tổ chức phát hành và các trung gian thị trường trong nước với mức thuế suất là 20% (bằng với mức thuế suất chung của các loại hình doanh nghiệp khác), các văn phòng đại diện giao dịch của các công ty nước ngoài có mức thuế TNDN bằng 0,1% trên giá giao dịch chứng khoán. Thuế TNCN áp dụng đối với các các giao dịch bán chứng khoán như cổ phiếu5, chứng chỉ quỹ, chứng khoán phái sinh6 với mức thuế là 20% trên lợi nhuận thu được hoặc 0,1% trên giá trị giao dịch. Ngoài ra, các nhà đầu tư còn nộp mức thuế 5% trên phần cổ tức được nhận khi các tổ chức phát hành chia cổ tức. Thuế GTGT hiện đang được miễn trên TTCK Việt Nam.

Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số vấn đề đặt ra trong việc ban hành và thực thi CST như: vấn đề thuế với nhà đầu tư tư nhân; tính điều tiết... Cụ thể: (i) Việc các nhà đầu tư chọn cách tính thuế 0,1% trên tổng giá trị chứng khoán bán ra, dẫn đến việc các nhà đầu tư khi bị thua lỗ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Quy định đánh thuế 5% đối với cổ tức được nhận của các nhà đầu tư làm tăng mức thuế phải nộp, trong khi trước khi chia cổ tức, các tổ chức phát hành đã thực hiện đóng thuế TNDN. Hiện các CST chưa có sự phân biệt giữa thuế đối với thị trường chính thức và thị trường phi chính thức; thuế đối với nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân (thậm chí việc đầu tư vào các tổ chức phát hành chứng chỉ quỹ còn khiến nhà đầu tư phải chấp nhận mức thuế cao hơn so với việc tự đầu tư).

Từ việc nghiên cứu xu hướng cải cách CST của các quốc gia, khu vực trên thế giới và thực tế tại Việt Nam, có thể nhận thấy một số hướng đổi mới CST trên TTCK trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, xem xét kinh nghiệm các nước trong việc mở rộng cơ sở thuế đối với các khoản mục liên quan đến chênh lệch giá thị trường, bên cạnh phần thuế TNDN thông thường của các doanh nghiệp niêm yết. Tuy nhiên, khi thực hiện việc này cần nghiên cứu kỹ, tránh hiện tượng trùng thuế có thể xảy ra. Bên cạnh đó, xem xét tác động đến các doanh nghiệp khi việc này có thể dẫn đến cách nhìn nhận về việc doanh nghiệp đã niêm yết phải chịu nhiều thuế hơn so với các doanh nghiệp chưa niêm yết.

Thứ hai, nghiên cứu việc đưa ra các mức thuế chuyển nhượng khác nhau đối với các loại thị trường, theo đó khi chuyển nhượng các chứng khoán được niêm yết trên các Sở Giao dịch Chứng khoán sẽ chịu mức thuế thấp hơn so với khi giao dịch trên thị trường phi chính thức, thị trường tự do7, phân loại thuế theo đối tượng là tổ chức hay cá nhân, theo từng đối tượng nhà đầu tư khác nhau. Tuy nhiên, việc này chỉ thực hiện được trên cơ sở hệ thống lưu trữ dữ liệu, xử lý giao dịch hiện đại, đồng bộ, nhanh chóng, đảm bảo kết nối giữa các loại thị trường. Do vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tài chính, áp dụng các tiêu chuẩn, công nghệ tiên tiến của thế giới, sớm đưa hệ thống KRX vào hoạt động chính thức; song song cùng với đó là sự phát triển đồng bộ của hệ thống các ngân hàng thương mại, các CTCK.

Thứ ba, xây dựng hệ thống thuế phù hợp với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Hội nhập tài chính của Việt Nam đang ngày càng mạnh mẽ, hiện trên TTCK Việt Nam có nhiều nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân nước ngoài. Việt Nam cũng đã tham gia nhiều FTA, hiệp định thuế với các nước, do vậy một hệ thống thuế liên thông đảm bảo khả năng kết nối với thế giới cũng như đảm bảo thực hiện các cam kết trong các hiệp định mà Việt Nam đã tham gia là việc làm cần thiết trong thời gian tới. Để thực hiện hiệu quả vấn đề này, bên cạnh đòi hỏi phải nâng cấp về hệ thống công nghệ tài chính, còn là việc nghiên cứu kỹ hệ thống thuế của các nước, trên cơ sở đó thực hiện các thay đổi phù hợp, vừa đảm bảo phù hợp với hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam, vừa đảm bảo phù hợp với quy định của các nước đối tác.

Sự phát triển của TTCK ngày càng mạnh mẽ, theo đó vai trò của thị trường này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội cũng ngày càng cao. Một thị trường phát triển ổn định, bền vững và hội nhập sẽ tạo cơ sở cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế. Để đạt được mục tiêu này, các chính phủ đã luôn theo sát sự biến động từ nội tại thị trường cũng như các thay đổi từ bên ngoài để đưa ra biện pháp cải cách thuế tương ứng. Việc cải cách CST cần được thực hiện trên cơ sở đảm bảo phù hợp với hệ thống pháp luật chung của đất nước, hệ thống cơ sở hạ tầng, bên cạnh đó cần dựa trên bản chất của hoạt động tài chính, khả năng thích ứng của thị trường cũng như quá trình hội nhập.

 

Các bài viết khác: