Skip to content
ssc.gov.vn
Hỏi - Đáp pháp luật
Hỏi/Đáp về Thông tư 134/2017/TT-BTC ngày 19/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán
14/11/2018

Ngày 19/12/2017, Bộ trưởng Bộ Tài Chính ban hành Thông tư 134/2017/TT-BTC thay thế Thông tư 87 về hướng dẫn giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán. Thông tư 134 bao gồm nhiều nội dung mới, có kế thừa và bổ sung, thay thế quy định Thông tư 87. Sau đây là một số câu hỏi liên quan tới nội dung của Thông tư 134/TT-BTC/2017

Câu 1: Công ty quản lý quỹ hoặc đại lý phân phối chứng chỉ quỹ có phải đăng ký cung cấp dịch vụ GDCKTT không? Trường hợp phải đăng ký thì thủ tục và hồ sơ thực hiện như thế nào ?

Trả lời: Thông tư 134/2017/TT-BTC không quy định công ty quản lý quỹ và đại lý phân phối chứng chỉ quỹ phải đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến. Vì vậy, công ty QLQ và đại lý phân phối chỉ cần xây dựng hệ thống giao dịch trực tuyến đảm bảo theo quy định mà không cần thực hiện cấp phép của UBCKNNN.

Theo quy định tại khoản 5, Điều 14 Thông tư số 134/2017/TT-BTC: “Công ty quản lý quỹ, đại lý phân phối chứng chỉ quỹ phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tài liệu quy định tại khoản 3 Điều 11 Thông tư này tối thiểu năm (05) ngày làm việc trước ngày triển khai hệ thống GDTT cho nhà đầu tư; thực hiện báo cáo năm về hoạt động GDTT theo mẫu quy định tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư này trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày kết thúc năm”.

Câu 2: Theo quy định tại Thông tư, công ty chứng khoán phải ban hành đầy đủ quy trình thực hiện dịch vụ GDCK trực tuyến. Xin cho biết những quy định này do CTCK tự xây dựng hay áp dụng theo mẫu của UBCKNN. Xin nêu rõ chi tiết của những quy trình thực hiện dịch vụ GDTT?

Trả lời: Tại điểm c khoản 2 Điều 5 Thông tư 134 quy định về việc ban hành quy trình thực hiện dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến, bao gồm: “Quy trình vận hành theo dõi quản trị hàng ngày; quy trình đăng ký, hủy sử dụng dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến; quy trình về xử lý sự cố; quy trình sao lưu dự phòng hệ thống, dữ liệu; quy trình kiểm soát rủi ro trong hoạt động cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến cho nhà đầu tư và các quy trình khác phù hợp Luật Giao dịch điện tử, Luật An toàn thông tin mạng, các văn bản hướng dẫn thi hành và quy định của Thông tư này, trong đó phải nêu rõ trách nhiệm của đối tượng tham gia quy trình”.

Như vậy, CTCK phải tự xây dựng các quy trình, phù hợp với hệ thống của công ty và phải xác định rõ trách nhiệm của các đối tượng tham gia quy trình.

Câu 3: Đối với việc triển khai dịch vụ IPO trực tuyến theo cách: khách hàng gửi yêu cầu đăng ký mua IPO trực tuyến qua phương thức online (giao dịch trực tuyến). Công ty tiếp nhận yêu cầu và thực hiện yêu cầu theo đăng ký của khách hàng đồng thời thông báo lại kết quả thực hiện lên website để khách hàng theo dõi. Cách triển khai dịch vụ IPO trực tuyến như trên thì có thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư 134 không?

Trả lời: Tại điểm a khoản 1 Điều 16 Thông tư 134/2017/TT-BTC quy định về hoạt động trao đổi thông tin điện tử, trong đó bao gồm nội dung trao đổi thông tin điện tử qua mạng internet hoặc mạng riêng liên quan đến hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng. Vì vậy, trường hợp công ty triển khai dịch vụ IPO trực tuyến, công ty phải đảm bảo đáp ứng theo quy định tại Điều 16 Thông tư 134/2017/TT-BTC và các văn bản có liên quan đến hoạt động IPO.

Câu 4: Tại điểm g khoản 1 Điều 6 Thông tư quy định “Áp dụng những biện pháp kỹ thuật hoặc quản lý để thiết lập các mức giới hạn về mua bán chứng khoán theo quy định của pháp luật cho nhà đầu tư tham gia dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến”. Vậy thiết lập các mức giới hạn về mua bán chứng khoán tham khảo ở đâu?

Trả lời: Việc thiết lập các mức giới hạn về mua bán chứng khoán thực hiện theo quy định của pháp luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn. Hệ thống CNTT phục vụ GDCK trực tuyến phải thiết lập các giới hạn này (ví dụ: không được mua chứng khoán khi tài khoản khách hàng không đủ tiền; hệ thống phải có cảnh báo khi nhà đầu tư đặt lệnh hoặc khi có thay đổi về tỷ lệ ký quỹ thì hệ thống phải cho phép thiết lập giới hạn tương ứng với tỷ lệ cho phép...)

Câu 5: Giữa hai CTCK có thể ủy thác cho nhau để cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến cho khách hàng có được chấp nhận không?

Trả lời: Việc ủy thác giữa hai CTCK để cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến cho khách hàng là không hợp lệ. Luật chứng khoán cũng không quy định về việc cho phép ủy thác giữa hai CTCK để cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán cho khách hàng nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra cho nhà đầu tư.

Câu 6: Tại sao hệ thống GDCKTT của công ty “phải tách biệt về mặt vật lý với các hệ thống kinh doanh khác” ?

Trả lời: Nội dung tách biệt về mặt vật lý với các hệ thống kinh doanh khác do hệ thống GDCKTT (hoặc hệ thống kinh doanh khác) tiềm ẩn rủi ro và có thể bị tấn công qua mạng, do vậy cần có sự tách biệt về mặt vật lý để giảm thiểu rủi ro cho các hệ thống kinh doanh khác của công ty.

Câu 7: Công ty không lấy được chứng chỉ tương ứng với các công nghệ đang sử dụng tại công ty do đơn vị cấp chứng chỉ ở nước ngoài nên rất khó khăn. Vậy phải làm thế nào ?

Trả lời: Thông tư 134 không quy định cụ thể về bằng cấp, chứng chỉ do có rất nhiều loại, nhân viên IT công ty chỉ cần có chứng chỉ về chuyên môn như CSDL, quản trị hệ thống, mạng phù hợp (điểm d khoản 2 Điều 5)

Câu 8: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 7 của Thông tư, hệ thống phần mềm ứng dụng trước khi đưa vào khai thác, vận hành phải được rà soát, quét lỗ hổng bảo mật và có báo cáo đánh giá bằng biên bản. 01 năm 01 lần phải có đánh giá rủi ro an toàn thông tin mạng của hệ thống GDCKTT. Vậy các báo cáo và biên bản này do công ty tự thực hiện hay phải thuê đơn vị khác có chức năng thực hiện đánh giá ?

Trả lời: Việc thực hiện đánh giá rủi ro hàng năm hoặc đánh giá hệ thống trước khi vận hành có thể do công ty tự thực hiện hoặc thuê ngoài.

Câu 9:

- Quy định bắt buộc các công ty theo Thông tư 134 vào thời điểm nào? Nếu NĐT không dùng chữ ký số được thì dùng OTP có được không?

- Công ty chứng khoán có thể áp dụng một hình thức xác thực hai yếu tố trong thời gian chờ các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số hoàn thiện giải pháp này

- CTCK có thể lùi thời hạn áp dụng việc triển khai giải pháp xác thực chữ ký số này hay không ?

Trả lời:

- Thông tư 134/2017/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ 01/3/2018 (Điều 19) và công ty hoàn thiện hệ thống trong vòng 06 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực thi hành (khoản 1 Điều 20).

- Công ty phải tích hợp sẵn giải pháp sử dụng CKS (điểm đ khoản 1 Điều 6), nhà đầu tư được lựa chọn sử dụng chữ ký số hay OTP (khoản 3 Điều 9) do CTCK cung cấp.

- Thông tư 134/2017/TT-BTC là văn bản pháp quy. Mọi đối tượng chịu sự điều chỉnh của văn bản đều phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, công ty phải hoàn thiện hệ thống theo quy định.

Câu 10: Để đáp ứng điều kiện tích hợp giải phải sử dụng chứng thư số, chữ ký số, công ty chứng khoán phải chuẩn bị về nguồn lực, nâng cấp, thay đổi hệ thống rất phức tạp nên cần có lộ trình áp dụng. Thời hạn 6 tháng theo hiệu lực của Thông tư có đủ thời gian cho CTCK chuẩn bị không?

Trả lời: Thời hạn 06 tháng là đủ để các CTCK thực hiện tích hợp cung cấp giải pháp giao dịch có sử dụng chứng thư số và chữ ký số cho nhà đầu tư lựa chọn. Điều này đã được các nhà cung cấp giải pháp chứng thư số tại Việt Nam thử nghiệm và xác nhận trong quá trình triển khai tại một số CTCK.

Câu 11: Thời điểm ngày 01/9/2018 sau khi hoàn thiện hệ thống CNTT theo yêu cầu mới của Thông tư 134, công ty có phải báo cáo UBCKNN hay không?

Trả lời: Sau khi hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin theo quy định của Thông tư 134, công ty phải báo cáo UBCKNN do việc tích hợp giải pháp làm thay đổi hệ thống của công ty.

UBCKNN

Các tin khác