Skip to content
ssc.gov.vn
Những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và phụ lục 4 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư
26/10/2018

  Ngày 22/11/2016, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư.

Trước khi trình Quốc hội về việc ban hành Luật này, cơ quan soạn thảo đã phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành rà soát, tổng kết, đánh giá thi hành Luật đầu tư và pháp luật có liên quan.

Kết quả tổng hợp cho thấy, theo Khoản 1 Điều 7 Luật đầu tư năm 2014, “ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Phụ lục 4 Luật đầu tư gồm 267 ngành, nghề thuộc các lĩnh vực: Quốc phòng, an ninh; tư pháp; công thương; lao động, thương binh và xã hội; giao thông - vận tải; thông tin và truyền thông; giáo dục và đào tạo; nông nghiệp và phát triển nông thôn; kế hoạch và đầu tư; y tế; khoa học và công nghệ; tài nguyên và môi trường; ngân hàng. Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành, nghề nêu trên được áp dụng dưới các hình thức như: giấy phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, văn bản xác nhận và các hình thức văn bản chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, điều kiện đầu tư kinh doanh còn bao gồm những điều kiện mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để kinh doanh trong những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận bằng các hình thức văn bản nêu trên.

Việc ban hành Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư đã góp phần tích cực vào quá trình minh bạch hóa môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam, góp phần bảo vệ quyền tự do kinh doanh cho người dân và doanh nghiệp.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật đầu tư đã đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Trước hết, một số ngành, nghề quy định tại Danh mục này không còn cần thiết do không đáp ứng các tiêu chí và mục tiêu quy định tại Khoản 1 Điều 7 Luật đầu tư. Các Luật khác được ban hành sau khi Luật đầu tư có hiệu lực thi hành (như Luật: An toàn thông tin mạng, Dược, Khí tượng thủy văn…) đã quy định một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh mới, cần được bổ sung trong Danh mục này. Bên cạnh đó, một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Danh mục này chưa rõ ràng, thiếu cụ thể và chuẩn xác cả về tên gọi, nội dung, dẫn đến cách hiểu khác nhau khi thực hiện, gây khó khăn cho cơ quan nhà nước và doanh nghiệp trong áp dụng, tuân thủ điều kiện đầu tư kinh doanh. Đồng thời, một số ngành, nghề có cùng mục tiêu, tính chất, nhưng lại được quy định phân tán trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau hoặc quy định không thống nhất về cơ quan quản lý.

Xuất phát từ những lý do trên, việc sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Luật đầu tư là cần thiết. Quan điểm, định hướng chính sách, yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật này là:

Một là, cắt giảm một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, thiếu tính khả thi nhằm xóa bỏ rào cản gia nhập thị trường, giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện đầy đủ, nhất quán quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp trong những ngành, nghề mà Luật này không cấm.

Hai là, bổ sung một số ngành, nghề cần thiết phải quy định là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện để bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; đáp ứng yêu cầu mới phát sinh trong thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư kinh doanh.

Ba là, hệ thống hóa, cập nhật một số ngành, nghề nhằm nâng cao tính minh bạch, khả thi, tạo thuận lợi cho việc áp dụng và thực hiện pháp luật của người dân, doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý nhà nước.

Để thực hiện những quan điểm, định hướng nêu trên, những nội dung sửa đổi, bổ sung Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật cũng như công tác quản lý nhà nước đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; tránh tạo ra khoảng trống pháp lý, gây xáo trộn hoạt động đầu tư kinh doanh; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, nhưng vẫn phải tiếp tục duy trì, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Trên cơ sở Tờ trình 508 /TTr-CP ngày 29 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ, sau khi xem xét, ngày 22/11/2016, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017, quy định về các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (bao gồm: Kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị và sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu xe ô tô) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2017. Luật đã bãi bỏ 20 ngành; sửa tên, tách, hợp nhất 67 ngành cũ thành 49 ngành mới và bổ sung 15 ngành mới.

Việc bãi bỏ một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sẽ làm thay đổi quy định tương ứng đối với các ngành, nghề này tại các luật có liên quan và các nghị định quy định chi tiết về điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành, nghề đó. Căn cứ nguyên tắc quy định tại Khoản 3 Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Khoản 2 Điều 4 Luật đầu tư thì những ngành, nghề được đề xuất bãi bỏ cũng như điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành, nghề đó đang quy định tại các luật, nghị định có liên quan sẽ chấm dứt hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Việc cập nhật, chuẩn xác hóa tên một số ngành, nghề theo quy định tại các luật có liên quan không làm thay đổi mục đích, nội dung điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đó mà chỉ nhằm bảo đảm phù hợp với quy định tương ứng của các luật có liên quan cũng như tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch của hệ thống pháp luật, qua đó tạo thuận lợi để người dân và doanh nghiệp tuân thủ các điều kiện đầu tư kinh doanh. Do vậy, những nội dung sửa đổi, bổ sung Danh mục về vấn đề này không đòi hỏi phải sửa đổi quy định tương ứng tại các luật có liên quan. Việc hệ thống hóa ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo hướng hợp nhất một số ngành, nghề không đơn giản chỉ để giảm số lượng ngành, nghề trong Danh mục mà mục đích chính là nhằm loại bỏ những ngành trùng lặp, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước đối với những ngành, nghề này.

Dưới đây là tổng hợp chi tiết các ngành nghề bãi bỏ, sửa tên, tách hợp nhất, mới bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư:

1. Các ngành, nghề bãi bỏ: 20 ngành

TT

NGÀNH SỐ (STT tại Phụ lục 4 Luật đầu tư)

NGÀNH, NGHỀ BÃI BỎ

LÝ DO BÃI BỎ

 

30

Kinh doanh dịch vụ đào tạo đại lý bảo hiểm

Đào tạo đại lý bảo hiểm là hoạt động được thực hiện bởi các cơ sở giáo dục (trường, trung tâm đào tạo đã được thành lập) đáp ứng được các yêu cầu: (i) có chương trình đào tạo phù hợp (ii) cán bộ đào tạo có kiến thức chuyên môn về bảo hiểm, pháp luật, kỹ năng sư phạm; (iii) có cơ sở vật chất đảm bảo việc đào tạo.

Các yêu cầu này về thực chất là quy chuẩn kỹ thuật theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà không phải là điều kiện kinh doanh.

Do đó, bãi bỏ ngành, nghề này để quản lý theo quy chuẩn kỹ thuật.

 

32

Kinh doanh dịch vụ tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa

Các điều kiện đối với ngành này về bản chất là yêu cầu do chủ sở hữu tài sản (Nhà nước) đặt ra để chọn lọc đối tượng được thực hiện dịch vụ xác định giá trị tài sản của mình, không phải là điều kiện theo yêu cầu quản lý nhà nước đối với một ngành riêng biệt.

Do đó, bãi bỏ ngành này vì các yêu cầu, điều kiện đối với hoạt động này không phải là điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư.

 

112

Kinh doanh dịch vụ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Bãi bỏ vì không phù hợp với mục đích quy định về ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư

 

118

Kinh doanh dịch vụ lập, thẩm tra xây dựng dự án đầu tư xây dựng

Bãi bỏ vì không phù hợp với mục đích quy định về ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư

 

122

Kinh doanh dịch vụ quản lý vận hành hệ thống chiếu sáng, cây xanh

Bãi bỏ vì không phù hợp với mục đích quy định về ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư

 

123

Kinh doanh dịch vụ quản lý, vận hành hệ thống cơ sở hạ tầng dùng chung

Bãi bỏ vì không phù hợp với mục đích quy định về ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư

 

129

Nhập khẩu thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến điện

Bãi bỏ vì không cần thiết quản lý nhà nước bằng điều kiện đầu tư kinh doanh đối với doanh nghiệp nhập khẩu. Thay vào đó, thực hiện quản lý nhà nước bằng quy chuẩn kỹ thuật đối với thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến điện nhập khẩu.

 

146

Hoạt động của trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh sinh viên

Mục tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh quy định tại Điều 4 Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh là “Giáo dục cho công dân về kiến thức quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Do đó, nếu coi hoạt động của trung tâm quốc phòng và an ninh là hoạt động đầu tư kinh doanh là chưa phù hợp.

 

152

Dịch vụ tổ chức dạy thêm học thêm

Bãi bỏ vì không phù hợp với mục đích quy định về ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư.

 

154

Kinh doanh ngư cụ và trang thiết bị khai thác thuỷ sản

Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với ngành, nghề này là kiểm soát chất lượng của ngư cụ và trang thiết bị khai thác thủy sản trước khi đưa vào sử dụng, nhằm đảm bảo hiệu quả cho hoạt động khai thác thủy sản. Mục tiêu này có thể đạt được thông qua việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật đối với ngư cụ và trang thiết bị khai thác thủy sản mà không cần quy định điều kiện kinh doanh đối với doanh nghiệp kinh doanh ngư cụ và trang thiết bị khai thác thủy sản.

 

182

Kinh doanh cây cảnh, cây bóng mát, cây cổ thụ từ rừng tự nhiên trong nước

Bãi bỏ vì không phù hợp với mục đích quy định về ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư.

 

183

Kinh doanh củi than từ gỗ hoặc củi có nguồn gốc từ gỗ rừng tự nhiên trong nước

Kinh doanh gỗ có nguồn gốc từ rừng tự nhiên không phải là ngành kinh doanh có điều kiện (gỗ loại này có thể được khai thác hợp pháp trước đây). Do vậy, việc quy định kinh doanh củi than từ gỗ hoặc củi có nguồn gốc từ gỗ rừng tự nhiên trong nước là ngành kinh doanh có điều kiện là không hợp lý.

 

188

Kinh doanh dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng về đấu thầu

Bãi bỏ vì không phù hợp với mục đích quy định về ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư

 

189

Kinh doanh dịch vụ của đại lý đấu thầu

Bãi bỏ vì không phù hợp với mục đích quy định về ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư

 

190

Kinh doanh dịch vụ tư vấn đánh giá dự án đầu tư

Bãi bỏ vì không phù hợp với mục đích quy định về ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư

 

191

Kinh doanh dịch vụ đào tạo đánh giá dự án đầu tư

Bãi bỏ vì không phù hợp với mục đích quy định về ngành đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư

 

228

Kinh doanh dịch vụ tổ chức lễ hội

Không cần thiết phải quy định là ngành kinh doanh có điều kiện. Cần chuyển phương thức quản lý từ việc quy định điều kiện đối với chủ thể tổ chức lễ hội sang quản lý về hình thức, quy mô, nội dung văn hóa của lễ hội, gắn với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, vui chơi, giải trí.

 

229

Kinh doanh tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh

Bãi bỏ vì không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư, đồng thời Nghị định số 72/2016 ngày 1/7/2016 về hoạt động nhiếp ảnh đã quy định về quản lý nội dung hoạt động nhiếp ảnh nên không cần thiết phải quy định là ngành kinh doanh có điều kiện. Mặt khác, đây cũng là ngành cần khuyến khích xã hội hóa.

 

253

Kinh doanh dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết

Luật Bảo vệ môi trường không quy định hoạt động này. Hơn nữa, chủ dự án phải chịu trách nhiệm lập các Báo cáo về vấn đề này.

 

265

Nhập khẩu hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành của Ngân hàng Nhà nước (cửa kho tiền)

Bãi bỏ vì không cần thiết phải quản lý đối với hoạt động nhập khẩu cửa kho tiền. NHNN đang quản lý hoạt động này theo tiêu chuẩn kỹ thuật của kho tiền (bao gồm cửa kho tiền) khi đưa vào sử dụng.

2. Các ngành sửa tên, tách, hợp nhất: 67 ngành cũ thành 49 ngành mới

TT

SỐ CŨ (theo STT tại Phụ lục 4 Luật đầu tư 67/2014/QH13)

NGÀNH NGHỀ CŨ

SỐ MỚI

(theo STT tại Phụ lục kèm theo Luật số 03/2016/QH14)

NGÀNH, NGHỀ SỬA TÊN, TÁCH, HỢP NHẤT

LÝ DO

 

3

Kinh doanh các loại pháo

3

Kinh doanh các loại pháo, trừ pháo nổ

Do “Kinh doanh pháo nổ” đã được bổ sung vào hoạt động đầu tư kinh doanh bị cấm tại khoản 1 Điều 6 Luật đầu tư

 

15

Hành nghề quản tài viên

19

Hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong quá trình giải quyết phá sản

Phù hợp với 22/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản.

 

21, 22

Kinh doanh dịch vụ lưu kho ngoại quan (21)

Kinh doanh dịch vụ thu gom hàng lẻ ở nội địa (22)

25

Kinh doanh kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ

Hợp nhất ngành số 21 (Kinh doanh dịch vụ lưu kho ngoại quan) vào ngành số 22 (Kinh doanh dịch vụ thu gom hàng lẻ ở nội địa) và sửa thành “Kinh doanh kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ.”

Lý do: Theo quy định tại Luật Hải quan, Địa điểm thu gom hàng lẻ là khu vực kho, bãi dùng để thực hiện các hoạt động thu gom, chia, tách hàng hóa của nhiều chủ hàng vận chuyển chung công-te-nơ. Kho ngoại quan là khu vực kho, bãi lưu giữ hàng hóa đã làm thủ tục hải quan được gửi để chờ xuất khẩu; hàng hóa từ nước ngoài đưa vào gửi để chờ xuất khẩu ra nước ngoài hoặc nhập khẩu vào Việt Nam.

Như vậy, 2 ngành kinh doanh nêu trên đều là kinh doanh kho, bãi phục vụ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Việc phân biệt 02 ngành: "kinh doanh dịch vụ lưu kho ngoại quan"(ngành số 21) và "kinh doanh dịch vụ thu gom hàng lẻ ở nội địa" (ngành số 22) không phản ánh đầy đủ chức năng của kho ngoại quanvì ngoài việc lưu giữ, kho ngoại quan còn có các hoạt động bảo trì, bảo dưỡng, chia tách, đóng gói, đóng gói lại, sắp xếp lại hàng hóa, phân loại phẩm cấp và chuyển quyền sở hữu. Ngoài ra, địa điểm thu gom hàng lẻ không chỉ có ở nội địa mà còn có thể được thành lập tại khu vực cửa khẩu.

Việc sửa đổi còn nhằm thống nhất thuật ngữ với Luật Hải quan.

 

23

Kinh doanh dịch vụ tập kết, kiểm tra hải quan trong, ngoài khu vực cửa khẩu

26

Kinh doanh địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan

Tên ngành “Kinh doanh dịch vụ tập kết, kiểm tra hải quan trong, ngoài khu vực cửa khẩu” không phản ánh đúng bản chất và nội dung của loại hình kinh doanh này. Theo quy định tại Điều 22 Luật Hải quan và Nghị định 68/2016/NĐ-CP, địa điểm làm thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan gồm: (i) Địa điểm làm thủ tục hải quan tại cảng cạn; (ii) Địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tập trung tại các khu vực cửa khẩu, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, sân bay quốc tế, khu vực biên giới nằm trong khu kinh tế cửa khẩu, khu vực cửa khẩu biên giới đất liền; (iii) Địa điểm chuyển phát nhanh; (iv) Địa điểm hàng bưu chính.

 

39

Kinh doanh dịch vụ đặt cược

39

Kinh doanh đặt cược

Sửa lại tên ngành để phản ánh đúng bản chất của hoạt động là “đặt cược” mà không phải là “dịch vụ” cho hoạt động “đặt cược”. Việc sửa đổi còn nhằm thống nhất với các ngành có bản chất tương tự trong Danh mục như kinh doanh sổ số, kinh doanh casino.

 

42

Kinh doanh khí

42, 43

Kinh doanh khí (42)

Sản xuất, sửa chữa chai chứa khí dầu mỏ hóa lỏng (chai LPG) (43)

Sản xuất, sửa chữa chai chứa LPG có thể ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng nếu chai LPG đưa vào thị trường có chất lượng kém, gây cháy nổ. Do vậy, đề nghị bổ sung hoạt động sản xuất, sửa chữa chai chứa LPG vào ngành kinh doanh khí.

Điều kiện này đã được quy định tại Nghị định 77/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, phân bón, kinh doanh khí, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương và Nghị định 19/2016/NĐ-CP ngày 22/3/2016 của Chính phủ về kinh doanh khí.

 

49, 176

Kinh doanh phân bón vô cơ (49)

Kinh doanh, khảo nghiệm phân bón hữu cơ (176)

174, 175

Kinh doanh phân bón (174)

Kinh doanh dịch vụ khảo nghiệm phân bón (175)

Hợp nhất với ngành kinh doanh, khảo nghiệm phân bón hữu cơ để đảm bảo tính thống nhất trong quản lý nhà nước về kinh doanh phân bón.

 

60, 62

Kinh doanh than (60)

Kinh doanh khoáng sản (62)

61

Kinh doanh khoáng sản

Phù hợp với Luật khoáng sản, theo đó, than là khoáng sản.

 

64

Hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài

63

Hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Bổ sung đối tượng để phù hợp với thực tế hoạt động xuất nhập khẩu, phân phối của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng phải tuân thủ điều kiện đầu tư theo cam kết của Việt Nam trong WTO và các FTA.

 

68, 148

Hoạt động dạy nghề (68)

Hoạt động giáo dục trung cấp chuyên nghiệp (148)

68

Hoạt động giáo dục nghề nghiệp

Hợp nhất và sửa để phù hợp với Luật Giáo dục nghề nghiệp. Theo đó, giáo dục nghề nghiệp bao gồm cả "giáo dục nghề nghiệp trung cấp và cao đẳng".

 

69, 151

Hoạt động liên kết đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng với cơ sở dạy nghề của nước ngoài, cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài (69)

Hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài (151)

146

Hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài

Luật giáo dục nghề nghiệp quy định cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cơ sở giáo dục nghề nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài, cơ sở giáo dục nghề nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài) là một loại hình tổ chức của cơ sở giáo dục nghề nghiệp và phải tuân thủ các điều kiện đầu tư kinh doanh trong Luật giáo dục nghề nghiệp. Do đó, hợp nhất ngành nghề số 69 vào ngành 151 “Hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài.”.

 

72

Kinh doanh dịch vụ kiểm định chất lượng chương trình liên kết đào tạo nghề với cơ sở dạy nghề nước ngoài và cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

69

Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp

Việc sửa đổi tên này để đảm bảo thống nhất quản lý đối với hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nói chung (không chỉ là cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và chương trình liên kết đào tạo nghề với cơ sở dạy nghề nước ngoài), bảo đảm chất lượng đào tạo của nhà trường, người học và đảm bảo quản lý nhà nước đối với hoạt động của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục và phù hợp với Chương VI của Luật giáo dục nghề nghiệp.

 

73

Kinh doanh dịch vụ kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với các máy, thiết bị vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động

71

Kinh doanh dịch vụ kiểm định kỹ thuật an toàn lao động

Phù hợp với tên ngành nghề được quy định tại Nghị định số 4/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động

 

106

Kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng nguy hiểm bằng phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy

105

Kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng nguy hiểm

Vận chuyển hàng nguy hiểm dù bằng phương tiện gì nếu không an toàn cũng có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng người dân, gây mất trật tự, an toàn xã hội.

Do vậy, cần sửa để phản ánh đầy đủ điều kiện kinh doanh đối với ngành nàygồm cả việc vận chuyển hàng nguy hiểm bằng các phương tiện khác như: đường sắt, đường hàng không…

 

110

Kinh doanh dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về môi giới bất động sản, định giá bất động sản, quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản

108

Kinh doanh dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về môi giới bất động sản, điều hành sàn giao dịch bất động sản

Theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản thì định giá bất động sản không còn là hoạt động kinh doanh có điều kiện mà thực hiện thống nhất theo Luật Giá. Do vậy, sửa đổi theo hướng loại bỏ nội dung định giá bất động sản.

 

113

Kinh doanh dịch vụ tư vấn quản lý dự án

110

Kinh doanh dịch vụ tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng

Phù hợp với Luật xây dựng và Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 06 năm 2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

 

119

Hoạt động xây dựng của nhà đầu tư nước ngoài

115

Hoạt động xây dựng của nhà thầu nước ngoài

Luật Xây dựng năm 2014 quy định điều kiện kinh doanh đối với hoạt động xây dựng của nhà thầu nước ngoài, không phải của nhà đầu tư nước ngoài, do vậy cần sửa đổi cho thống nhất với Luật Xây dựng.

 

121

Kinh doanh dịch vụ kiểm định, chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng

117

Kinh doanh dịch vụ kiểm định chất lượng công trình xây dựng

Luật Xây dựng năm 2014 không còn quy định dịch vụ chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng cũng như điều kiện về năng lực đối với tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ này.

 

131

Thành lập, hoạt động nhà xuất bản

127

Hoạt động của nhà xuất bản

Phản ánh đúng tên gọi ngành nghề kinh doanh có điều kiện

 

132

Kinh doanh dịch vụ in

128

Kinh doanh dịch vụ in, trừ in bao bì

Ngành kinh doanh dịch vụ in được quy định là ngành nghề kinh donah có điều kiện nhằm hạn chế việc in các tài liệu không đúng quy định của pháp luật, đặc biệt là các ấn phẩm thuộc danh mục cấm, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đồng thời, phòng, chống, xử lý việc in lậu, in nối bản các sản phẩm. Tuy nhiên, việc in bao bì là phụ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, không cần quản lý dưới hình thức điều kiện kinh doanh.

 

135

Kinh doanh trò chơi trên mạng

131

Kinh doanh trò chơi trên mạng viễn thông, mạng Internet

Để phân biệt giữa trò chơi điện tử thông thường thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đồng thời làm rõ khái niệm “mạng” trong tên ngành, nghề này

 

136, 139

Kinh doanh dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền (136)

Kinh doanh dịch vụ truyền hình theo yêu cầu (139)

132

Kinh doanh dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền

Kinh doanh dịch vụ truyền hình theo yêu cầu là một trong những nội dung của ngành “Kinh doanh dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền”.

 

142

Kinh doanh sản phẩm và dịch vụ an toàn thông tin

137

Kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng

Để phù hợp với quy định của Luật an toàn thông tin mạng.

 

156, 178, 179

Kinh doanh thức ăn thủy sản (156)

Sản xuất thức ăn chăn nuôi (178)

Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi (179)

151

Kinh doanh thức ăn thuỷ sản, thức ăn chăn nuôi

Theo Nghị định 66/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ, kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm, thì điều kiện kinh doanh đối với 2 ngành này không khácnhau (Điều 12, Điều 13). Do vậy, cần hợp nhất các ngành 156 (kinh doanh thức ăn thủy sản), 178 (sản xuất thức ăn chăn nuôi) và 179 (nhập khẩu thức ăn chăn nuôi) thành ngành “Kinh doanh thức ăn thủy sản, thức ăn chăn nuôi.

 

159

Kinh doanh dịch vụ khảo nghiệm thức ăn thủy sản

152

Kinh doanh dịch vụ khảo nghiệm thức ăn thủy sản, thức ăn chăn nuôi

Theo Nghị định 66/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ, kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm, thì cần bổ sung hoạt động kinh doanh dịch vụ khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi và sửa đổi ngành này thành: “Kinh doanh dịch vụ khảo nghiệm thức ăn thủy sản, thức ăn chăn nuôi”.

 

174

Kinh doanh dịch vụ chăn nuôi tập trung, sản xuất con giống; giết mổ động vật; cách ly kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; sản xuất nguyên liệu có nguồn gốc động vật để sản xuất thức ăn chăn nuôi, sơ chế, chế biến, bảo quản động vật, sản phẩm động vật; kinh doanh sản phẩm động vật, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản sản phẩm động vật

170, 171, 173

Kinh doanh chăn nuôi tập trung (170)

Kinh doanh cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm (171)

Kinh doanh dịch vụ cách ly kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật (173)

Sửa đổi để thu hẹp nội hàm của ngành này vì:

“Sản xuất con giống” đã có ở ngành 177.

Sản xuất nguyên liệu có nguồn gốc động vật để sản xuất thức ăn chăn nuôi” đã có trong mục “kinh doanh thức ăn chăn nuôi” đã có ở ngành 156.

Sơ chế, chế biến bảo quản động vật, sản phẩm động vật; kinh doanh sản phẩm động vật, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản sản phẩm động vật nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm

 

163,

164, 180

Xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, quá cảnh và nhập nội từ biển mẫu vật từ tự nhiên quy định tại các Phụ lục của Công ước CITES (163)

Xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu mẫu vật nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo quy định tại các Phụ lục của Công ước CITES (154)

Xuất khẩu, nhập khẩu động vật, thực vật hoang dã quý hiếm, trên cạn nguy cấp cần kiểm soát theo Phụ lục của Công ước CITES (180)

155, 156

Nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã theo Phụ lục của Công ước CITES (155)

Nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm không quy định tại Phụ lục của Công ước CITES (156)

Hợp nhất ngành số 180 (Xuất khẩu, nhập khẩu động vật, thực vật hoang dã quý hiếm, trên cạn nguy cấp cần kiểm soát theo Phụ lục của Công ước CITES) vào các ngành số 163 (Xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, quá cảnh và nhập nội từ biển mẫu vật từ tự nhiên quy định tại các Phụ lục của Công ước CITES) và ngành số 164 (Xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu mẫu vật nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo quy định tại các Phụ lục của Công ước CITES) do hoạt động này là một trong những nội dung của ngành 163, 164.

Các ngành số 163, 164 không thay đổi.

 

177, 184

Kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi (177)

Kinh doanh tinh, phôi, trứng giống và ấu trùng (184)

176, 177

Kinh doanh giống cây trồng, giống vật nuôi (176)

Kinh doanh giống thủy sản (177)

Hợp nhất ngành số 184 (Kinh doanh tinh, phôi, trứng giống và ấu trùng) vào ngành số 177 (Kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi) vì tinh, phôi, trứng, ấu trùng đều được gọi chung là giống vật nuôi đã quy định tại ngành số 177 và bổ sung thêm giống thủy sản để thống nhất với Luật Thủy sản.

 

196, 197, 206, 207

Kinh doanh thuốc (196)

Kinh doanh dịch vụ kiểm nghiệm thuốc (197)

Kinh doanh dịch vụ đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học (BA/BE) của thuốc (206)

Kinh doanh dịch vụ thử thuốc trên lâm sàng (207)

191

Kinh doanh dược

Sửa để phù hợp với quy định của Luật Dược 2016. Theo đó, dược bao gồm thuốc và nguyên liệu làm thuốc.

- Kinh doanh dịch vụ kiểm nghiệm thuốc (ngành số 197): Theo quy định tại Điều 32 Luật Dược thì “Kinh doanh dịch vụ kiểm nghiệm thuốc, nguyên liệu làm thuốc” là một trong những hoạt động kinh doanh thuộc ngành “kinh doanh dược”.

- Kinh doanh dịch vụ đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học (BA/BE) của thuốc (ngành số 206): Theo quy định tại Điều 32 Luật Dược 2016 thì kinh doanh dược gồm kinh doanh dịch vụ thử tương đương sinh học. Do đó, hợp nhất ngành này vào kinh doanh dược. Bên cạnh đó, Luật Dược 2016 không quy định dịch vụ đánh giá sinh khả dụng là ngành kinh doanh có điều kiện. Do đó, bãi bỏ dịch vụ đánh giá sinh khả dụng để thống nhất với Luật Dược 2016.

- Kinh doanh dịch vụ thử thuốc trên lâm sàng (ngành số 207): Theo quy định tại Điều 32 Luật Dược 2016 thì dịch vụ thử thuốc trên lâm sàng là một trong những hoạt động của kinh doanh dược.

 

212, 214

Kinh doanh dịch vụ tiến hành công việc bức xạ (212)

Xuất, nhập khẩu và vận chuyển vật liệu phóng xạ (214)

199

Kinh doanh dịch vụ tiến hành công việc bức xạ

Theo quy định tại Điều 28 Luật Năng lượng nguyên tử thì hoạt động xuất, nhập khẩu và vận chuyển vật liệu phóng xạ là một trong 14 hoạt động thuộc ngành “kinh doanh dịch vụ tiến hành công việc bức xạ”, đã được quy định tại ngành số 212. Do vậy, hợp nhất ngành này vào ngành 162 để quản lý thống nhất theo Luật Năng lượng nguyên tử.

 

211, 236

Kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu công nghiệp (211)

Kinh doanh dịch vụ giám định quyền tác giả, quyền liên quan (236)

198

Kinh doanh dịch vụ giám định về sở hữu trí tuệ (bao gồm: giám định về quyền tác giả và quyền liên quan, giám định sở hữu công nghiệp và giám định về quyền đối với giống cây trồng)

Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về điều kiện kinh doanh/hành nghề giám định về sở hữu trí tuệ, theo đó giám định về sở hữu trí tuệ gồm 3 chuyên ngành (đã được quy định chi tiết trong các Nghị định của Chính phủ): Giám định về quyền tác giả và quyền liên quan; Giám định sở hữu công nghiệp; Giám định về quyền đối với giống cây trồng. Do đó, hợp nhất ngành 236 vào ngành 211 và bổ sung thêm nội dung làm rõ nội hàm của ngành này để thống nhất với Luật Sở hữu trí tuệ.

 

67, 78, 215

Kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp với thiết bị áp lực, thiết bị nâng đặc thù chuyên ngành công nghiệp, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, trang thiết bị khai thác mỏ, dầu khí, trừ các thiết bị, phương tiện thăm dò, khai thác trên biển (67)

Kinh doanh dịch vụ chứng nhận và công bố hợp quy (78)

Kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp theo lĩnh vực khoa học công nghệ (215)

201

Kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp

Điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp đã được quy định tại Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (Điều 25), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (Chương IV).

Mục đích quản lý nhà nước và yêu cầu điều kiện đầu tư kinh doanh của Ngành số 67 cơ bản không khác với ngành 215, chỉ khác nhau về đối tượng được đánh giá.

Khoản 3 Điều 41 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật quy định: “Đánh giá sự phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật được thực hiện bắt buộc theo yêu cầu quản lý nhà nước được thực hiện dưới hình thức thử nghiệm, giám định, chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy”. Căn cứ quy định này thì “chứng nhận hợp quy” và “công bố hợp quy” tại mục số 78 là các hoạt động kinh doanh cụ thể của ngành “Kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp” đã được quy định tại mục 215 sửa đổi.

Vì vậy, hợp nhất ngành số 67 và 78 với ngành 215 để đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý nhà nước đối với các ngành này.

 

217

Kinh doanh mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy

203

Sản xuất mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe gắn máy

Việc quy định cả tiêu thụ, cung ứng mũ bảo hiểm là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là không hợp lý. Do vậy, sửa tên nhằm quản lý đối với hoạt động sản xuất.

 

220

Sản xuất phim

206

Kinh doanh dịch vụ sản xuất, phát hành và phổ biến phim

Sửa tên ngành số 220: “Sản xuất phim” thành tên ngành “Kinh doanh dịch vụ sản xuất, phát hành và phổ biến phim” để thống nhất với quy định của Luật Điện ảnh.

Việc áp dụng các điều kiện đối với phát hành và phổ biến phim là nhằm tạo cơ sở để phim Việt Nam có điều kiện được phát hành và phổ biến trong các rạp chiếu phim, tránh việc biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ phim nước ngoài.

 

225

Kinh doanh hoạt động thể thao

211

Kinh doanh hoạt động thể thao của doanh nghiệp thể thao, câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp

Phù hợp với Nghị định 106/2016/NĐ-CP quy định điều kiện kinh doanh hoạt động thể thao

 

231

Kinh doanh dịch vụ quảng cáo

215

Kinh doanh dịch vụ giới thiệu sản phẩm quảng cáo đến công chúng

Phù hợp với Luật quảng cáo

 

12, 242

Hành nghề bán đấu giá tài sản (12)

Kinh doanh dịch vụ đấu giá quyền sử dụng đất (242)

16

Hành nghề đấu giá tài sản

Hợp nhất ngành số 242 (Kinh doanh dịch vụ đấu giá quyền sử dụng đất) vào ngành số 12 (Hành nghề bán đấu giá tài sản) (ngành số 12 không thay đổi).

Lý do: Dịch vụ đấu giá quyền sử dụng đất là một hoạt động trong “hành nghề bán đấu giá tài sản” và không cần thiết phải quy định điều kiện riêng cho hoạt động này. Theo đó, không quy định điều kiện đầu tư kinh doanh đối với dịch vụ đấu giá quyền sử dụng đất và hoạt động này thực hiện theo điều kiện chung về

Việc hợp nhất còn nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đồng thời bảo đảm chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa hoạt động bán đấu giá tài sản.

 

244, 245

Kinh doanh dịch vụ khoan nước dưới đất (244)

Kinh doanh dịch vụ thăm dò nước dưới đất (245)

227

Kinh doanh dịch vụ khoan nước dưới đất, thăm dò nước dưới đất

Hợp nhất ngành số 244 (Kinh doanh dịch vụ khoan nước dưới đất) và ngành số 245 (kinh doanh dịch vụ thăm dò nước dưới đất) và sửa thành: “Kinh doanh dịch vụ khoan, thăm dò nước dưới đất”.

Lý do: Ngành số 244 (Kinh doanh dịch vụ khoan nước dưới đất) và Ngành 245 (Kinh doanh dịch vụ thăm dò nước dưới đất) có cùng nội dung quản lý nhà nước và do một cơ quan nhà nước quản lý. Do đó, nhập hai ngành này với nhau để bảo đảm thống nhất trong quản lý nhà nước.

 

246, 247

Kinh doanh dịch vụ khai thác, xử lý và cung cấp nước (246)

Kinh doanh dịch vụ thoát nước (247)

228

Kinh doanh dịch vụ khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước

Sửa tên ngành số 246: “Kinh doanh dịch vụ khai thác, xử lý và cung cấp nước” thành tên ngành “Kinh doanh dịch vụ khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước” và hợp nhất ngày 247 vào ngành này.

Sửa để phản ánh đúng nội dung ngành kinh doanh có điều kiện phù hợp với các Điều 37, 43, 52 Luật Tài nguyên nước và Chương III Nghị định số 201/2013/NĐ-CP. Ngành 247 thuộc nội hàm của ngành 246.

 

250, 255

Kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại (250)

Kinh doanh dịch vụ thu hồi, vận chuyển, xử lý sản phẩm thải bỏ (255)

232

Kinh doanh dịch vụ vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại

Hợp nhất ngành số 255 (Kinh doanh dịch vụ thu hồi, vận chuyển, xử lý sản phẩm thải bỏ) vào ngành số 250 (Kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại) và sửa thành: “Kinh doanh dịch vụ xử lý chất thải nguy hại”

Lý do: Hợp nhất ngành 255 (Kinh doanh dịch vụ thu hồi, vận chuyển, xử lý sản phẩm thải bỏ) vào ngành này và chuẩn xác thuật ngữ để thống nhất với quy định tại Điều 93 Luật Bảo vệ môi trường.

 

254

Kinh doanh chế phẩm sinh học (254)

235

Kinh doanh chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải

Chuẩn xác từ ngữ theo quy định, đồng thời, phân biệt với các loại chế phẩm sinh học dung trong các lĩnh vực khác.

 

261

Hoạt động ngoại hối

241

Hoạt động ngoại hối của tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

“Hoạt động ngoại hối” gồm hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng và hoạt động ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng. Hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng đã thuộc các ngành số 256, 257 và 258. Vì vậy, cần sửa lại để tránh trùng lặp với hoạt động kinh doanh ngoại hối của tổ chức tín dụng.

 

262, 263, 264

Kinh doanh mua, bán vàng miếng (262)

Sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng (263)

Sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ (264)

242

Kinh doanh vàng

Hợp nhất ngành số 264 (Sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ) và ngành số 263 (Sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng) vào ngành số 262 (Kinh doanh, mua, bán vàng miếng) và sửa thành: “Kinh doanh vàng”

Lý do: Ngân hàng nhà nước là cơ quan thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng. Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đối với hoạt động kinh doanh vàng được quy định tại các ngành số 262, 263 và 264 Phụ lục 4 Luật Đầu tư. Việc phân chia các ngành như trên là phân tán và chưa phản ánh đầy đủ các ngành, nghề có điều kiện trong kinh doanh vàng theo quy định tại Nghị định 24/2012/NĐ-CP. Việc hợp nhất này đảm bảo thống nhất quản lý và phản ánh đầy đủ các hoạt động kinh doanh vàng đang được Ngân hàng nhà nước quản lý.

3. Các ngành, nghề bổ sung: 15 ngành mới

TT

NGÀNH SỐ

(theo STT tại Phụ lục kèm theo Luật số 03/2016/QH14)

TÊN NGÀNH

LÝ DO BỔ SUNG

 

4

Kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị

Thiết bị ghi âm, ghi hình ngụy trang là những thiết bị được thiết kế, tạo ra trong thiết bị, đồ vật hoặc giả dạng thiết bị, đồ vật thông thường nhằm che dấu tính năng ghi âm, ghi hình hoặc không được mô tả trong tài liệu kỹ thuật của thiết bị đó.

Phần mềm ghi âm, ghi hình, định vị ngụy trang là bất kỳ chương trình máy tính nào được tạo ra, giả dạng các phần mềm hệ thống, ứng dụng tiện ích, công cụ khác hoặc được lập trình, viết thêm các mã lệnh vào các phần mềm hệ thống, ứng dụng tiện ích hoặc phần mềm công cụ khác để bí mật quay phim, chụp ảnh, ghi âm, xác định vị trí của mục tiêu.

Các hoạt động kinh doanh trong ngành nêu trên tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

 

67

Kiểm toán năng lượng

Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã quy định điều kiện đối với hoạt động này.  

 

79

Sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu xe ô tô

Xe ô tô là sản phẩm công nghệ cao, cấu tạo phức tạp và có giá trị lớn. Chất lượng xe ô tô có ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm tính mạng, sức khỏe con người, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường. Do vậy, cần áp dụng điều kiện kinh doanh ô tô từ khâu sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu đến bảo hành, bảo dưỡng; cụ thể là:

- Về điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô, theo Quyết định số 115/2004/QĐ - BCN ngày 12/05/2004 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) trước đây, doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe ô tô phải đầu tư nhà máy sản xuất-lắp ráp ô tô đáp ứng Tiêu chuẩn doanh nghiệp sản xuất-lắp ráp ô tô và sản phẩm sản xuất, lắp ráp trong nước phải được thử nghiệm để được cấp Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, pháp luật hiện hành còn quy định một số điều kiện khác nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và bảo vệ môi trường (như quy định về triệu hồi xe khi bị lỗi, yêu cầu xe ô tô sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới tại thị trường Việt Nam phải áp dụng tiêu chuẩn khí thải mức EURO 4 từ 01/01/2017 và EURO 5 từ 01/01/2022…).

Tuy nhiên, đối với ô tô nhập khẩu, hiện nay doanh nghiệp nhập khẩu thường không phải đầu tư nhà máy sản xuất-lắp ráp ô tô đáp ứng Tiêu chuẩn doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô và sản phẩm nhập khẩu cũng không nhất thiết phải có “Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường” (hoặc tương đương) do nước sản xuất cấp. Điều này chưa đảm bảo công bằng giữa nhà sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước và nhà nhập khẩu.

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 1168/QĐ-TTg ngày 16/7/2014 đã đưa ra giải pháp: “nghiên cứu thiết lập các điều kiện kinh doanh cần thiết đối với ô tô nhập khẩu; đồng thời, hoàn thiện, bổ sung tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu đối với ô tô sản xuất trong nước để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phù hợp với thông lệ quốc tế” và “bảo đảm nhất quán, ổn định hệ thống chính sách trong thời gian tối thiểu 10 năm, phù hợp với xu thế hội nhập để tạo sự tin tưởng đối với người tiêu dùng và nhà sản xuất, làm tiền đề cho các hoạt động đầu tư”.

Do vậy, việc bổ sung ngành sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô là cần thiết để phát triển ngành công nghiệp ô tô theo định hướng nêu trên, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và an toàn, tính mạng, sức khỏe của cộng đồng.

 

88

Đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải và tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải

Việc đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải có ảnh hưởng tới an toàn hàng hải, tương tự như đối với phương tiện thủy nội địa (Ngành số 89 Phụ lục 4 Luật Đầu tư).

Bên cạnh đó, việc bổ sung thành “Đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải và tổ chức tuyển dụng cung ứng thuyền viên hàng hải” vào Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện còn nhằm đảm bảo phù hợp với Công ước Lao động hàng hải năm 2006 mà Việt Nam là thành viên và thống nhất với quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam.

Theo quy định của Công ước Lao động hàng hải thì “Quốc gia thành viên có các cơ sở tuyển dụng và cung ứng thuyền viên tư nhân hoạt động trong lãnh thổ của mình với mục đích chính là tuyển dụng và cung ứng thuyền viên hoặc tuyển dụng và cung ứng một số lượng lớn thuyền viên thì các cơ sở này chỉ được phép hoạt động theo một hệ thống được chuẩn hóa về cấp phép hoặc chứng nhận hoặc quản lý khác”. Trong khi đó, Bộ luật Lao động 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 55/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Lao động về việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện thuê lại lao động, Nghị định số 52/2014/NĐ-CP ngày 23/5/2014 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm chưa điều tiết đến hoạt động của tổ chức tuyển dụng và cung ứng thuyền viên hàng hải. Hơn nữa, đây là hoạt động mang tính đặc thù cao, nguồn lao động này phải đáp ứng các quy định tại Bộ luật Hàng hải Việt Nam và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm an toàn hàng hải.

Do đó, đề nghị bổ sung ngành “đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải và tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải” vào Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

 

118

Kinh doanh dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng

Thí nghiệm chuyên ngành xây dựng là hoạt động đặc thù của ngành xây dựng nhằm đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, đặc biệt tại các công trình xây dựng nơi tập trung nhiều người lao động và dễ xảy ra mất an toàn nếu các bộ phận cấu thành công trình xây dựng không được thí nghiệm đầy đủ, chặt chẽ.

Hiện nay, có hơn 1.400 phòng thí nghiệm đang hoạt động cung cấp các kết quả thí nghiệm phục vụ công tác đánh giá sự phù hợp chất lượng sản phẩm hàng hóa xây dựng và vật liệu xây dựng. Trong đó, công trình, bộ phận công trình cũng là một loại sản phẩm xây dựng mang tính đặc thù chuyên ngành mà chỉ có các phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng mới có khả năng thực hiện, cho ra kết quả để giúp các nhà chuyên môn, quản lý đánh giá chất lượng sản phẩm xây dựng của mình hoặc do mình quản lý. Do đó, việc duy trì hệ thống các phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng là cần thiết để bảo đảm an toàn xã hội.

 

119

Kinh doanh dịch vụ quản lý, vận hành nhà chung cư

Nhà chung cư là nơi tập trung sinh sống của nhiều hộ gia đình, cá nhân, và có nguy cơ xảy ra nhiều rủi ro như cháy nổ, dịch bệnh ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của cộng đồng

Việc quản lý, vận hành nhà chung cư là một công việc phức tạp, nhiều giai đoạn, không phải đơn vị nào cũng thực hiện được mà phải do đơn vị có chuyên môn thực hiện (kỹ thuật điện, cháy nổ, vệ sinh, thang máy, kỹ thuật…).

Điều kiện năng lực của đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư đã được quy định tại Luật Nhà ở năm 2005, Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.

 

120

Kinh doanh dịch vụ quản lý, vận hành cơ sở hỏa táng

Hỏa táng là một nghề đặc thù có ảnh hưởng đến xã hội, môi trường và sức khỏe người dân. Công nghệ hỏa táng ngày càng đa dạng và hiện đại sử dụng các thiết bị trong nước, thiết bị nước ngoài. Việc sử dụng các nguồn nguyên, nhiên liệu, năng lượng phục vụ cho hỏa táng đóng vai trò quan trọng.

Quản lý, vận hành cơ sở hỏa táng đòi hỏi năng lực của người quản lý, vận hành cơ sở hỏa táng. Tổ chức tham gia quản lý vận hành phải có chuyên môn liên quan đến sinh hóa, cơ khí, môi trường. Đối với cơ sở hỏa táng, ngoài thiết bị máy móc phải có trang thiết bị bảo hộ lao động, phương tiện kỹ thuật và thiết bị phụ trợ cần thiết khác nhằm đảm bảo yêu cầu về môi trường và an toàn lao động cho người quản lý, vận hành.

 

136

Kinh doanh dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền ".vn"

Tên miền “.vn” là tài nguyên thông tin quốc gia quy định tại Luật Viễn thông; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền “.vn” là dịch vụ công do nhà nước quản lý. Từ năm 2008, Bộ Thông tin và Truyền thông đã giao cho các Nhà đăng ký tên miền “.vn” thay mặt cơ quan quản lý nhà nước làm đầu mối tiếp nhận, xử lý các yêu cầu đăng ký sử dụng tên miền “.vn”.

Do vậy, đây là một loại hình kinh doanh có điều kiện, chỉ các doanh nghiệp có đủ các điều kiện nhất định làm Nhà đăng ký tên miền “.vn” mới có thể thực hiện cung cấp dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền “.vn”. Đây là các điều kiện bắt buộc tối thiểu để các Nhà đăng ký tên miền có đủ năng lực tiếp nhận, lưu giữ thông tin và vận hành các hệ thống kỹ thuật tương thích, cập nhật, báo cáo đồng bộ về hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu, hệ thống DNS quốc gia do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý tập trung, phục vụ cho hoạt động ổn định của tên miền quốc gia “.vn” và bảo vệ được quyền lợi chính đáng của chủ thể đã đăng ký và hoàn thành nghĩa vụ phí, lệ phí đăng ký, duy trì tên miền với nhà nước. Các điều kiện này đã được quy định tại Nghị định số 72/2013/NĐ-CP và hiện đang áp dụng.

 

138

Kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự

Phù hợp Nghị định 58/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự

 

147

Kiểm định chất lượng giáo dục

Ngành này đã được quy định tại các điều 110a, 110b và 110c Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009 và Điều 52 Luật giáo dục đại học năm 2012. Đồng thời, ngành này cần được bổ sung vào Danh mục để bảo đảm chất lượng đào tạo của nhà trường, người học và đảm bảo quản lý nhà nước đối với hoạt động của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục.

 

148

Kinh doanh dịch vụ tư vấn du học

Khoản 29 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục năm 2009 quy định: “Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể việc công dân Việt Nam ra nước ngoài giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật; việc hợp tác về giáo dục với tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài." Thực hiện quy định này, ngày 15/1/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 05/2013/QĐ-TTg quy định công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, trong đó, hoạt động tư vấn du học (TVDH) được quy định tại Chương III gồm các Điều: 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 và 17.

Tư vấn du học (TVDH) là hoạt động có tính đặc thù, liên quan đến con người và đặc biệt là thế hệ trẻ, đòi hỏi người cung cấp dịch vụ này phải có nhiều kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục quốc tế, được đào tạo để có kiến thức và nghiệp vụ thì mới có khả năng cung cấp dịch vụ tư vấn có chất lượng cho người học và phụ huynh. Hiện nay cả nước có hơn 4.000 công ty, tổ chức đăng ký kinh doanh dịch vụ TVDH. Ngoài ra, còn rất nhiều tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ TVDH bằng nhiều hình thức đa dạng khác như tư vấn qua mạng, đa cấp... Hàng năm, người Việt Nam tiêu tốn khoảng 3 tỷ USD cho việc du học nước ngoài.

Trong những năm qua, hoạt động TVDH của nhiều cá nhân, tổ chức có diễn biến phức tạp, gây bức xúc trong xã hội, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước. Thực tế cho thấy, một số công ty, tổ chức TVDH không có đội ngũ tư vấn được đào tạo nghiệp vụ nên thiếu hiểu biết, dẫn đến tư vấn sai, hoặc vì lợi nhuận mà bỏ qua chất lượng đào tạo và lợi ích của người học (gửi du học sinh đến các trường đại học ảo hoặc chưa được kiểm định chất lượng); cố tình quảng cáo sai sự thật, thiếu trách nhiệm và làm giả hồ sơ trong việc đưa người đi học tại nước ngoài. Nhiều công ty, tổ chức TVDH tự ý tổ chức triển lãm du học và các hoạt động tuyển sinh tràn lan, phát tán tài liệu du học có nội dung không phù hợp, gây ảnh hưởng đến an ninh, chính trị nội bộ. Những hoạt động sai trái này còn tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh và thiếu công bằng giữa các công ty, tổ chức cung cấp dịch vụ TVDH.

Thực tế đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải bổ sung hoạt động này vào Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động TVDH, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội, bảo vệ quyền lợi cho người học, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo.

 

154

Kinh doanh đóng mới, cải hoán tàu cá

Điều 33 Luật Thủy sản đã quy định điều kiện kinh doanh đối với ngành này nhằm bảo đảm an toàn cho ngư dân khi sử dụng tàu để khai thác thủy sản.

 

178

Kinh doanh dịch vụ khảo nghiệm giống cây trồng, giống vật nuôi

Khảo nghiệm giống cây trồng là hoạt động nhằm đánh giá giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống. Đây là công đoạn bắt buộc để công nhận giống và được cấp phép sản xuất kinh doanh. Điều kiện kinh doanh đối với hoạt động này đã được quy định tại Pháp lệnh giống cây trồng.

Khảo nghiệm giống vật nuôi là một khâu cần thiết trong sản xuất giống. Điều kiện kinh doanh đối với hoạt động này đã được quy định tại Pháp lệnh giống vật nuôi.

 

226

Kinh doanh dịch vụ dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn

Ngành này đã được quy định tại Điều 54 Luật Khí tượng thủy văn và cần được bổ sung vào Danh mục để nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn, phục vụ phòng, chống thiên tai, bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân và xã hội.

 

229

Kinh doanh dịch vụ điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch, đề án, báo cáo tài nguyên nước

Bổ sung để phản ánh nội dung ngành kinh doanh có điều kiện phù hợp với Điều 23 Luật Tài nguyên nước và Điều 5, 6, 7, 8, 9, 10, Điều 11 của Nghị định số 60/2016/NĐ-CP.

Các tin khác