Skip to content
ssc.gov.vn
Chương trình - đề tài nghiên cứu khoa học
SRTC: Giới thiệu các Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2014
21/08/2014

  Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo Chứng khoán (SRTC) giới thiệu các Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2014.

1. Đề tài UB.14.01: “Hoàn thiện phương pháp phân tích giao dịch chứng khoán trong công tác giám sát giao dịch thao túng và nội gián”

Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thế Thọ

Đơn vị chủ trì:   Vụ Giám sát thị trường

1.1. Tính cấp thiết của đề tài:  

Năm 2008, Vụ Giám sát thị trường - UBCKNN được thành lập nhằm toàn diện hóa và chuyên môn hóa công tác quản lý nói chung và hoạt động giám sát giao dịch trên TTCK nói riêng hướng tới xây dựng một TTCK công bằng, minh bạch và phát triển bền vững.

Hiện tại, với sự hỗ trợ của Hệ thống giám sát giao dịch của UBCKNN (Hệ thống MSS) công tác giám sát đối với các giao dịch chứng khoán trên TTCKVN của Vụ Giám sát đã có những cải thiện rõ rệt, đặc biệt là thông tin, dữ liệu giao dịch đã tương đối đầy đủ và kịp thời. Tuy nhiên khâu phát hiện, phân tích đến xử lý vụ việc, đặc biệt là việc phát hiện ra các giao dịch có dấu hiệu thao túng giá hoặc giao dịch nội bộ vẫn chủ yếu thực hiện theo phương pháp thủ công, chưa có phần mềm công cụ hỗ trợ phân tích giao dịch chứng khoán. Kết quả hoạt động giám sát vẫn chủ yếu phụ thuộc vào trình độ kinh nghiệm của các cán bộ giám sát trên thị trường với các quy định pháp luật tương ứng để phát hiện và xử lý những dấu hiệu vi phạm. Ngoài ra, do cán bộ giám sát chưa được đào tạo chuyên sâu về phương pháp phân tích giao dịch, chưa có một quy trình hay phương pháp phân tích chính thức và hiệu quả để thực hiện nên việc phát hiện và xử lý các giao dịch có dấu hiệu bất thường còn nhiều hạn chế.

Do vậy, từ những điều kiện thị trường và yêu cầu thực tế của công tác giám sát giao dịch như trên, việc xây dựng và hoàn thiện các phương pháp phân tích giao dịch một cách khoa học, hiệu quả để đảm bảo công tác giám sát trên TTCKVN được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác là đòi hỏi bức xúc hiện nay.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài hướng đến các mục tiêu sau:

- Khảo sát các phương pháp phân tích giao dịch chứng khoán của một số nước trên thế giới nhằm rút ra cơ sở lý luận, bài học kinh nghiệm để áp dụng xây dựng các phương pháp phân tích giao dịch hỗ trợ giám sát giao dịch của UBCKNN;

- Đánh giá thực trạng hoạt động giám sát giao dịch và các phương pháp phân tích giao dịch chứng khoán hiện tại;

- Xác định những nội dung cần xây dựng các phương pháp phân tích giao dịch chứng khoán hỗ trợ hoạt động giám sát giao dịch;

- Đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng các phương pháp phân tích giao dịch hỗ trợ hoạt động giám sát giao dịch.

1.3. Nội dung đề tài: Đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

Chương I. Khái quát về hoạt động giám sát giao dịch của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Chương II. Thực trạng hoạt động giám sát giao dịch của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Chương III. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích giao dịch chứng khoán để nâng cao hiệu quả công tác giám sát giao dịch thao túng và nội gián.

2. ĐỀ TÀI UB.14.02: “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC”

Chủ nhiệm đề tài:   Ths. Nguyễn Nhân Nghĩa

Đơn vị chủ trì:   Vụ Tổ chức cán bộ

2.1. Tính cấp thiết của đề tài:

Việc đào tạo công chức, viên chức của UBCKNN hiện nay chủ yếu tập trung theo ngạch/ bậc hay chức danh chung như ở bất cứ cơ quan hành chính nào và cũng chỉ mới mới đào tạo chuyên môn cơ bản. Việc đào tạo, bồi dưỡng chưa tập trung đào tạo theo vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp; phát huy năng lực cá nhân; chưa đào tạo chuyên môn sâu đặc thù ngành chứng khoán. Thêm vào đó công tác đào tạo công/ viên chức gần như phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách, cơ sở giáo dục đào tạo Nhà nước.

Từ yêu cầu thực tiễn cần có sự đổi mới, nâng cao nhận thức về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công/viên chức đòi hỏi phải có những phân tích, đánh giá chuẩn xác nội tại công tác đào tạo của UBCKNN là vấn đề quan trọng được các cấp quản lý đặc biệt quan tâm.

2.2. Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chung: Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức UBCKNN.

Mục tiêu cụ thể:

- Xây dựng Khung chương trình đào tạo tương ứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp của công/viên chức;

- Công/viên chức có cơ hội phát huy năng lực cá nhân; được đào tạo chuyên sâu về chứng khoán và TTCK; và

- Bước đầu “xã hội hóa” đào tạo công/ viên chức thông qua việc hợp tác đào tạo với các định chế trên TTCK.

2.3. Nội dung đề tài: Đề tài gồm 3 chương:

Chương I. Cơ sở lý luận chung về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức.

Chương II. Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức tại các đơn vị thuộc UBCKNN.

Chương III. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức các đơn vị thuộc UBCKNN trong giai đoạn hiện nay.

3. ĐỀ TÀI UB.14.03: “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM”

Chủ nhiệm đề tài:   Ths. Hoàng Mạnh Hùng

Đơn vị chủ trì:  Trung tâm NCKH&ĐTCK

3.1. Tính cấp thiết của đề tài:

Thực trạng yếu kém về năng lực quản lý, điều hành của từng cá nhân tại các bộ phận thuộc hệ thống quản trị công ty, cũng như chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận quản trị đó chưa rõ ràng, cụ thể... dẫn đến các bộ phận/cơ quan cấu thành trong công tác quản trị chỉ mang tính hình thức mà chưa có hiệu quả thực sự và hiệu quả hoạt động kinh doanh thấp.

Quản trị công ty là một lĩnh vực mới, phức tạp, nên kiến thức về lĩnh vực này của các công ty nói riêng, của các doanh nghiệp và của xã hội nói chung còn nhiều hạn chế, nên có sự hiểu chưa đầy đủ, rõ ràng, thậm chí là nhầm lẫn kiến thức cơ bản trong lĩnh vực này.

Công tác đào tạo quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam, hiện tại, chủ yếu do SRTC của Ủy ban chứng khoán nhà nước thực hiện. Bên cạnh một số kết quả đã đạt được, công tác này còn nhiều hạn chế như: chương trình đào tạo mới chỉ tập trung nhiều vào các nội dung liên quan đến phía bên ngoài công ty (các cổ đông) và một phần cơ chế hoạt động của các bộ máy quản trị được dựa trên cơ sở một nhóm nguyên tắc mang tính “thông lệ tốt” mà chưa đề cập chuyên sâu đến một mảng nội dung quan trọng khác là các kiến thức về quản trị chức năng trong công ty, chưa gắn kết với thực tiễn quản lý, điều hành; đội ngũ giảng viên còn ít, hạn chế về kiến thức v.v. ..

Do đó, việc hoàn thiện công tác đào tạo này mang tính toàn diện hơn về cả nội dung, thời gian thực hiện, chương trình đào tạo cho từng đối tượng, từng bước cần phải thành lập đơn vị/tổ chức chuyên trách về Quản trị công ty tại Việt Nam như quốc tế đã thực hiện là vấn đề cần sớm triển khai.

3.2. Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chung: Nâng cao nhận thức về quản trị công ty, hoàn thiện công tác đào tạo quản trị tại Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Mục tiêu cụ thể: Xây dựng chương trình đào tạo/tập huấn về quản trị công ty; xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên; là cơ sở tham khảo để xây dựng Bộ quy tắc/nguyên tắc về quản trị công ty đại chúng/công ty niêm yết; cơ sở tham khảo xây dựng và phát triển các quy định về đào tạo quản trị công ty (Hướng dẫn pháp lý về đào tạo cho cán bộ quản lý trong hệ thống quản trị công ty), tiến tới xây dựng bộ phận/đơn vị đầu mối trong công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo về quản trị công ty tại Việt Nam.

3.3. Nội dung đề tài: Đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan công tác đào tạo quản trị công ty đại chúng.

Chương II: Thực trạng công tác đào tạo quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam.

Chương III: Hoàn thiện công tác đào tạo quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam.

4. ĐỀ TÀI UB.14.04:"GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI QUỸ ETF VÀNG Ở VIỆT NAM”

Chủ nhiệm đề tài:   TS. Nguyễn Quang Thương

Đơn vị chủ trì: Vụ Quản lý các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

4.1. Tính cấp thiết của đề tài:

Thị trường vàng Việt Nam từ khủng hoảng tài chính năm 2008 đến nay có nhiều biến động do giá vàng thế giới thay đổi mạnh kết hợp với mức độ hội nhập quốc ngày càng cao của Việt Nam, gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác điều hành chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ cũng đã có nhiều chính sách tương ứng để quản lý thị trường.

Hiện tại, thị trường vàng miếng trong nước đã ổn định hơn về cân đối cung cầu và giá cả, bước đầu thiết lập được trật tự tương đối trên thị trường… Tuy nhiên vẫn còn nhiều điểm tồn tại, trong đó phải kể đến: Chưa điều hành theo cơ chế thị trường; chưa minh bạch trong quá trình quản lý thị trường vàng; thiếu hội nhập và liên thông với thế giới; tạo ra độc quyền thương hiệu (SJC); không thu hẹp khoảng cách giá vàng trong và ngoài nước; lạc hậu so với thế giới cho chỉ chú tâm đến vàng miếng mà chưa quan tâm đến các sản phẩm tài chính vàng; ảnh hưởng đến tỷ giá và dự trữ ngoại tệ do phải xuất ngoại tệ để mua vàng.

Để giải quyết những vấn đề trên, Việt Nam có thể tham khảo các hình thức kinh doanh vàng hiện nay trên thế giới. Trong khi kinh doanh vàng miếng tại Việt Nam đang ngày càng thu hẹp lại thì các phương thức mới như mua bán trên tài khoản vàng, các sản phẩm tài chính liên quan đến vàng (hợp đồng tương lai và quyền chọn vàng, chứng khoán của các công ty khai thác vàng...), và quỹ hoán đổi danh mục vàng (ETF vàng) ngày càng bộc lộ những ưu điểm và được nhà đầu tư sử dụng ngày càng nhiều trên thị trường. Trong những ưu điểm của quỹ ETF vàng phải kể đến tính an toàn cao, minh bạch và thanh khoản tốt, đơn giản, chi phí thấp, tiện dụng cho nhà đầu tư.

Mặc dù chưa có quy định về quỹ ETF vàng nhưng Việt Nam đã có một khung pháp lý tương đối đầy đủ cho việc phát triển các sản phẩm của quỹ đầu tư chứng khoán trong đó có sản phẩm ETF, là một trong những hướng của chiến lược phát triển nhà đầu tư tổ chức. Phát triển sản phẩm ETF vàng không những góp phần ổn định thị trường vàng mà còn tạo thêm một sản phẩm tài chính giúp nhà đầu tư có công cụ phù hợp để phòng ngừa rủi ro lạm phát và đa dạng hóa danh mục đầu tư, từ đó góp phần giúp thị trường chứng khoán tiếp tục phát triển.

4.2. Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài tập trung vào nghiên cứu các nội dung sau:

- Thu thập thông tin, số liệu để phân tích thực trạng hoạt động và quản lý thị trường vàng Việt Nam;

- Tìm hiểu và sản phẩm ETF vàng trên thế giới;

- Phân tích và đánh giá ưu nhược điểm của sản phẩm ETF vàng đối với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường chứng khoán;

- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển ETF vàng tại một số quốc gia;

- Đánh giá và đề xuất giải pháp phát triển ETF vàng tại Việt Nam.

4.3. Nội dung đề tài: Đề tài gồm 03 chương:

Chương I: Thị trường vàng.

Chương II: Quỹ hoán đổi danh mục vàng (ETF vàng).

Chương III: Phát triển quỹ ETF vàng ở Việt Nam.

5. ĐỀ TÀI UB.14.05. "XÂY DỰNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC”

Chủ nhiệm đề tài:   Ths. Nguyễn Tiến Dũng

Đơn vị chủ trì:     Văn phòng UBCKNN.

5.1. Tính cấp thiết của đề tài:

Hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của TTCK, kéo theo đó là yêu cầu đối với công tác quản lý của UBCKNN càng cao. Các quyết sách của UB phải vừa chủ động, linh hoạt và mau lẹ đồng thời cũng phải đảm bảo tính chính xác cao. Điều đặc biệt đây là một trong những thể chế bậc cao trong nền kinh tế thị trường do đó việc xây dựng niềm tin, uy tín và sự minh bạch phải được đặt lên hàng đầu. Hiện nay UBCKNN đã ban hành nhiều văn bản, chính sách hướng dẫn và tăng cường công tác quản lý, thanh tra, giám sát thị trường nhằm làm giảm thiểu rủi ro có thể phát sinh trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, rủi ro lại có thể phát sinh từ chính các hoạt động của UBCKNN như: hoạt động cấp phép, giám sát, thanh tra,…Để đảm bảo tính minh bạch, phòng ngừa những rủi ro có thể phát sinh từ chính những hoạt động của mình đòi hỏi UBCKNN phải sớm xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu giúp đảm bảo tính tính tuân thủ trong hoạt động của UBCK, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những rủi ro tiềm ẩn có thể phát sinh từ trong chính những hoạt động này.

5.2. Mục tiêu nghiên cứu:

- Nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, đặc trưng của hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ để có kiến thức cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó làm cơ sở để xây dựng một mô hình KSNB phù hợp với tại UBCKNN;

- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc áp dụng mô hình kiểm soát nội bộ và so sánh với thực tiễn tại UBCKNN để đưa ra mô hình phù hợp với UBCK;

- Đề xuất xây dựng mô hình kiểm soát nội bộ tại UBCKNN và các phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình này tại UBCKNN.

5.3. Nội dung đề tài:

Chương I: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ.

Chương II: Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ tại UBCKNN.

Chương III: Giải pháp xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ tại UBCKNN.

6. ĐỀ TÀI UB.14.06. "GIAO DỊCH BÁN KHỐNG - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CƠ CHẾ QUẢN LÝ RỦI RO ĐỐI VỚI GIAO DỊCH BÁN KHỐNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM”

Chủ nhiệm đề tài:   TS. Tạ Thanh Bình

Đơn vị chủ trì:   Vụ Phát triển thị trường

6.1. Tính cấp thiết của đề tài

Bán khống hiểu một cách cơ bản nhất đó là việc bán chứng khoán khi người bán không sở hữu chứng khoán đó tại thời điểm bán. Người bán sẽ kiếm lợi nhuận khi bán chứng khoán với giá cao và mua lại chứng khoán đó trong tương lai với giá thấp hơn. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc cho phép thực hiện hay không thực hiện bán khống, song không thể phủ nhận một thực tế là bán khống thường đóng vai trò quan trọng trên thị trường trong việc tạo ra nhiều cơ hội đầu tư (đầu tư giá xuống), giúp điều chỉnh giá cổ phiếu, giảm thiểu khả năng xảy ra bong bóng trên thị trường, tăng thanh khoản thị trường, điều chỉnh hoạt động mang tính mạo hiểm và ngăn thao túng đẩy giá thị trường lên cao. Theo con số thống kê không đầy đủ, hiện nay 95% các thị trường phát triển và 31% thị trường các nước đang phát triển cho phép thực hiện giao dịch bán khống chứng khoán. (con số này là 64% và 10% so với cách đây 10 năm). Điều này cho thấy số nước cho phép thực hiện nghiệp vụ này ngày càng gia tăng. Giá trị vốn hóa thị trường ở những nước cho phép bán khống cũng gia tăng qua các năm và có quy mô lớn gấp nhiều lần so với những nước không cho phép bán khống, chiếm trên 90% tổng giá trị vốn hóa thị trường của các nước trên thế giới. Do đó, không thể phủ nhận sự tác động của việc cho phép bán khống với sự gia tăng quy mô, tính thanh khoản và sự phát triển của TTCK thế giới.

Ngay từ Luật Chứng khoán số 70, chúng ta đã ghi nhận và bỏ ngỏ khả năng sẽ triển khai trong tương lai giao dịch bán khống “theo hướng dẫn của Bộ Tài chính”. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại Bộ Tài chính vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể nào về vấn đề này, mà lý do cơ bản nhất là chúng ta chưa có đầy đủ các cơ chế hữu hiệu để kiểm soát các rủi ro có thể xảy ra do bán khống (đặc biệt là rủi ro thanh toán khi bên vay chứng khoán không thể hoàn trả chứng khoán đúng hạn), rủi ro gây bất ổn thị trường, cũng như chưa có cơ chế để có thể cung cấp dịch vụ cho vay chứng khoán một cách bài bản và hiệu quả.

Chính vì vậy, nghiên cứu toàn diện vấn đề này để có thể đáp ứng nhu cầu không thể né tránh của thực tiễn thị trường, chủ động trong quản lý và điều hành, góp phần đưa thị trường phát triển đúng hướng, kiểm soát tốt rủi ro và phù hợp với thông lệ quốc tế trong tiến trình hội nhập quốc tế.

6.2. Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về bán khống và các vấn đề xung quanh nghiệp vụ bán khống;

- Đánh giá thực trạng về bán khống chứng khoán tại Việt Nam từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành đến hiện nay bao gồm cả quy định pháp lý về bán khống;

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện khung pháp lý quy định về bán khống theo tinh thần của Luật Chứng khoán số 70 và các đề án, dự thảo đề án phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn 2011-2020;

- Mục tiêu ngắn hạn là bổ sung quy định về bán khống vào dự thảo Nghị định về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh trình Bộ trình Chính phủ phê duyệt.

6.3. Nội dung đề tài

Chương I: Khái quát chung về “bán khống”.

Chương II: Kinh nghiệm quốc tế về bán khống và những bài học rút ra đối với Việt Nam.

Chương III: Một số kiến nghị về khung pháp lý cho thị trường Việt Nam (các sản phẩm chứng khoán phái sinh, sản phẩm When Issued).

7. ĐỀ TÀI UB.14.07. “THẨM QUYỀN ĐIỀU TRA CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ MÔ HÌNH CHO VIỆT NAM”

Chủ nhiệm đề tài:   Ths. Phạm Thị Thanh Hương

Đơn vị chủ trì:  Thanh tra UBCKNN

7.1. Tính cấp thiết của đề tài

Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển của thị trường về quy mô, số lượng giao dịch, số lượng nhà đầu tư tham gia, các vi phạm ngày càng trở nên tinh vi, phức tạp. Việc giám sát, phát hiện, kiểm tra và đặc biệt là chứng minh hành vi vi phạm gặp khó khăn, nhất là trong việc xác định mối quan hệ giữa các đối tượng nghi vấn do các đối tượng có thể sử dụng phương thức, thông qua nhiều tài khoản dưới nhiều tên khác nhau và sử dụng giao dịch trực tuyến mà không cần phải thực hiện ủy quyền. Công tác thanh tra, xác minh các hoạt động giao dịch trên thị trường cần phải xác minh thông tin về giao dịch ngân hàng, trao đổi thông tin liên quan đến các đối tượng là cá nhân/tổ chức không thuộc quyền quản lý của UBCKNN. Tuy nhiên, hiện nay UBCKNN chưa có thẩm quyền độc lập trong việc thu thập thông tin về tài khoản ngân hàng của cá nhân/tổ chức, tiếp cận các sao kê cuộc gọi điện thoại; triệu tập đối tượng vi phạm để lấy lời khai … nên gặp nhiều khó khăn trong công tác xác minh, thu thập thông tin, chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm dẫn tới việc phát hiện và xử lý các vụ việc giao dịch nội bộ, thao túng thị trường còn hạn chế. Từ yêu cầu thực tiễn nói trên, việc nghiên cứu, đánh giá, đề xuấ giải pháp tăng cường thẩm quyền cho UBCKNN trong hoạt động điều tra để đảm bảo nâng cao hiệu quả công tác quản lý đối với TTCK là vấn đề thực sự cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.

7.2. Mục tiêu của đề tài

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động điều tra, về thẩm quyền điều tra và về cơ quan cơ quan có thẩm quyền điều tra trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK tại Việt Nam hiện nay;

- Nghiên cứu quy định pháp lý, cơ chế và mô hình thực hiện hoạt động điều tra của một số nước có thị trường chứng khoán phát triển hơn nhằm đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;

- Đánh giá thực trạng quy định về thẩm quyền và hoạt động điều tra vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK tại Việt Nam; đánh giá các yêu cầu cần thiết bổ sung thẩm quyền điều tra cho cơ quan quản lý TTCK;

- Đề xuất phương án triển khai bao gồm xây dựng khung pháp lý, tổ chức bộ máy phù hợp với hệ thống pháp luật và những đặc thù của TTCK Việt Nam.

7.3. Nội dung đề tài

Chương I: Khái quát về hoạt động điều tra và thẩm quyền điều tra trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam hiện nay.

Chương II: Thẩm quyền điều tra của cơ quan quản lý lý thị trường chứng khoán tại một số nước và thực trạng tại Việt Nam.

Chương III: Đề xuất bổ sung thẩm quyền điều tra của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam.

8. ĐỀ TÀI UB.14.08. “MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH TẠI VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài:   Ths. Bùi Thanh Ngà

Đơn vị chủ trì:  Vụ Pháp chế

8.1. Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 14 năm phát triển, TTCK Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế và vai trò quan trọng của mình. Đã đến lúc TTCK Việt Nam cần cho ra đời những sản phẩm và công cụ mới, nhằm tăng sức hấp dẫn với các nhà đầu tư và thúc đẩy sự phát triển của TTCK. Hiện nay, chưa có văn bản pháp lý nào điều chỉnh hoạt động của TTCK phái sinh. Tuy nhiên, trên thực tế đã xuất hiện các loại chứng khoán phái sinh và giao dịch chứng khoán phái sinh mà chủ yếu là các Hợp đồng quyền chọn dựa trên chỉ số cổ phiếu, hợp đồng tương lai từ đó đã xuất hiện nhiều tranh chấp trong hoạt động giao dịch chứng khoán phái sinh. Sự ra đời của TTCK phái sinh là tất yếu và được coi là công cụ phòng vệ rủi ro và đầu tư sinh lời. Trong bối cảnh đó, đặt ra vấn đề làm thế nào để tạo hành lang pháp lý chính thức cho các tổ chức tài chính, doanh nghiệp, cá nhân mong muốn được giao dịch các chứng khoán phái sinh? Cơ sở pháp lý nào để phòng ngừa và giải quyết tranh chấp trên TTCK phái sinh? Để giúp thị trường vận hành theo đúng quy luật của nó, hạn chế những xung đột về lợi ích giữa các chủ thể thì việc giải quyết hiệu quả các tranh chấp sẽ giúp xóa bỏ những mâu thuẫn, mang lại sự bình ổn cho thị trường chứng khoán phái sinh.

Giải quyết tranh chấp là yêu cầu bắt buộc của quản lý nhà nước đối với TTCK phái sinh nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường. Một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả là yếu tố thiết yếu để có một TTCK minh bạch, thực sự phát huy được vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường.

Thực tế các nước đã đưa ra các quy định về giải quyết tranh chấp trên TTCK phái sinh nhằm hạn chế các rủi ro tiềm ẩn của thị trường này, đảm bảo các giao dịch được công bằng, minh bạch bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia hợp đồng, giảm thiểu tối đa rủi ro cho nhà đầu tư.

Do đó, việc nghiên cứu pháp luật về giải quyết tranh chấp trên TTCK phái sinh ở Việt Nam hiện nay là rất quan trọng, nó sẽ góp phần vào việc xây dựng cơ sở pháp lý toàn diện và đầy đủ về giải quyết tranh chấp phát sinh đảm bảo sự phát triển ổn định và lành mạnh của TTCK nói chung.

8.2. Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu kinh nghiệm và bài học về xây dựng các quy định và thực tiễn giải quyết tranh chấp trên TTCK phái sinh một số nước trên thế giới, nghiên cứu và đánh giá thực tiễn khách quan về hoạt động của các chủ thể trên TTCK phái sinh ở Việt Nam;

- Đánh giá thực trạng tranh chấp giải quyết trên thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam, từ đó đề xuất xây dựng và hoàn thiện quy định và cơ chế về giải quyết tranh chấp trên TTCK phái sinh tại Việt Nam, cũng như làm rõ vai trò của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp trên TTCK phái sinh.

8.3. Nội dung đề tài

Chương I: Những vấn đề chung về tranh chấp trên TTCK phái sinh và giải quyết tranh chấp trên TTCK phái sinh.

Chương II: Kinh nghiệm các nước và thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp trên TTCK phái sinh.

Chương III: Xây dựng và hoàn thiện quy định về giải quyết tranh chấp trên TTCK phái sinh tại Việt Nam.

9. ĐỀ TÀI UB.14.09. “XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO DÀNH CHO CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT”

Chủ nhiệm đề tài:   Ths. Lê Nhị Năng

Đơn vị chủ trì:  Văn phòng đại diện UBCKNN

9.1. Tính cấp thiết của đề tài

Công ty niêm yết (CTNY) là chủ thể quan trọng TTCK. CTNY tham gia TTCK niêm yết với vai trò là chủ thể phát hành ra hàng hóa cho thị trường. Chất lượng hàng hóa có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thị trường chứng khoán nói chung. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của CTNY luôn gắn liền với các rủi ro. Lợi nhuận và rủi ro là hai mặt tồn tại song song và không thể tách rời.

Tuy vậy, trong giai đoạn từ năm 2008 đến nay, hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị rủi ro của các CTNY bộc lộ nhiều tồn tại dẫn đến tình trạng nợ xấu, tỷ lệ hàng tồn kho cao, nhiều doanh nghiệp bị hủy niêm yết bắt buộc do không còn đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết... Qua khảo sát sơ bộ, nhiều CTNY đã bộc lộ các điểm yếu “chết người” trong việc quản trị rủi ro. Nhiều CTNY không xây dựng quy trình quản trị rủi ro hoặc chỉ xây dựng quy trình này một cách hình thức. Trong thời gian qua, các tồn tại này là nguyên nhân dẫn đến thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, bị hủy niêm yết hoặc thậm chí phá sản của nhiều CTNY.

Về khung pháp lý cho hoạt động quản trị rủi ro, ngày 26/2/2013, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Quyết định 105/QĐ-UBCK ban hành Quy chế hướng dẫn việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho công ty chứng khoán. Đây là bước tiến lớn trong việc chuẩn hóa việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro của các công ty chứng khoán. Tuy nhiên, đối với các CTNY không phải là công ty chứng khoán, chúng ta vẫn chưa có khung pháp lý cũng như hướng dẫn nội dung tương tự.

Để nâng cao chất lượng hàng hóa trên TTCK và thúc đẩy sự phát triển, tính công bằng, minh bạch của TTCK, việc xây dựng mô hình quản trị rủi ro là cần thiết cho tất cả các CTNY (và xa hơn là cả các công ty đại chúng) nhằm:

(1) phòng ngừa và kiểm soát các rủi ro tiềm ẩn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh;

(2) đáp ứng được mục tiêu phát triển bền vững của CTNY và TTCK;

(3) đảm bảo lợi ích của cổ đông cũng như lợi ích chung của nền kinh tế và toàn xã hội.

Chính vì thế, việc nghiên cứu, ứng dụng và xây dựng mô hình quản trị rủi ro tại các CTNY có vai trò quan trọng không thể tách rời với hoạt động kinh doanh của CTNY.

9.2. Mục tiêu của đề tài

Thông qua việc nghiên cứu thông lệ tốt nhất về QTRR trên thế giới và tình hình thực tế tại Việt Nam, đề tài tập trung vào các mục tiêu chính, bao gồm:

- Khảo sát mức độ nhật thức về công tác QTRR của các côngty niêm yết từ đó có giải pháp nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về QTRR.;

- Đưa ra các khuyến nghị giúp CTNY xây dựng mô hình QTRR tại doanh nghiệp.

9.3. Nội dung đề tài

Chương I: Khái quát chung về QTRR

Chương II: Thực trạng QTRR trong các CTNY ở Việt Nam.

Chương III: Một số giải pháp để xây dựng cơ chế pháp lý và quy trình QTRR cho các CTNY ở Việt Nam.

10. ĐỀ TÀI UB.14.10. “XÂY DỰNG CƠ CHẾ XỬ LÝ SỰ ĐỔ VỠ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM”

Chủ nhiệm đề tài:   Ths. Hoàng Phú Cường

Đơn vị chủ trì:  Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán

10.1. Tính cấp thiết của đề tài

Một trong các nguyên tắc quản lý chứng khoán của IOSCO là cơ quan quản lý phải xây dựng và ban hành cơ chế, quy trình xử lý sự đổ vỡ của các công ty chứng khoán trên thị trường nhằm giảm thiểu tổn thất đối với nhà đầu tư. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới trong khuôn khổ Chương trình đánh giá khu vực tài chính của Việt Nam, hiện cơ quan quản lý thị trường chứng khoán chưa triển khai thực hiện nguyên tắc này. Theo đó, luật phá sản hiện hành bảo vệ việc chuyển tiền cho khách hàng và chuyển tiền thực hiện thanh toán bù trừ trong vòng 90 ngày trước khi mở thủ tục phá sản. Quy định pháp luật cũng cho phép đấu thầu và bán công ty chứng khoán này cho công ty chứng khoán khác trong đó bao gồm việc chuyển giao tài khoản khách hàng. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những điểm chưa rõ ràng trong việc xử lý tài sản khách hàng trong mối quan hệ giữa công ty chứng khoán và các chủ nợ một khi công ty chứng khoán tuyên bố phá sản và việc mua lại hoặc tái cấu trúc vốn là không khả thi. Luật chứng khoán quy định các công ty chứng khoán phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, tuy nhiên không quy định rõ giá trị của khoản bảo hiểm này, cũng như không quy định rõ cách thức đền bù thiệt hại cho nhà đầu tư để bảo vệ họ khỏi các tổn thất do công ty chứng khoán và nhân viên của công ty chứng khoán gây ra.

Việc thành lập quỹ bảo vệ nhà đầu tư cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của UBCKNN trong năm 2014 trong bối cảnh công tác tái cấu trúc các công ty chứng khoán có thể làm co hẹp số lượng các công ty chứng khoán đang hoạt động.

10.2. Mục tiêu của đề tài

Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu tìm hiểu các cách thức xử lý đổ vỡ của công ty chứng khoán, cơ chế đền bù thiệt hại, bảo vệ tài sản nhà đầu tư do các hành vi vi phạm pháp luật, sự đổ vỡ của các công ty chứng khoán trên thị trường. Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đề xuất xây dựng cơ chế, quy trình xử lý đổ vỡ công ty chứng khoán và thành lập quỹ bảo vệ nhà đầu tư (bao gồm khuôn khổ pháp lý, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành) như một cơ chế bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

10.3. Nội dung đề tài

Chương I: Cơ sở lý luận về đổ vỡ và cơ chế xử lý sự đổ vỡ của công ty chứng khoán.

Chương II: Thực trạng hoạt động của khối công ty chứng khoán tại Việt Nam và nhu cầu cấp bách phải có quy trình xử lý đổ vỡ công ty chứng khoán.

Chương III: Khuyến nghị thành lập quỹ bảo vệ nhà đầu tư cho thị trường chứng khoán Việt Nam.

11. ĐỀ TÀI UB.14.11. “NGHIÊN CỨU VỀ QUỸ BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THẾ GIỚI VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM”

Chủ nhiệm đề tài:   Ths. Vũ Chí Dũng

Đơn vị chủ trì:  Vụ Hợp tác quốc tế

11.1. Tính cấp thiết của đề tài

Sự thiếu minh bạch trong công bố thông tin, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ dẫn đến nhiều hành vi gian lận, làm méo mó thị trường, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, nhất là các nhà đầu tư cá nhân.

Hội nhập kinh tế quốc tế cùng với những thách thức bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán;

Trên thế giới, xu hướng sử dụng công cụ mới bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, đặc biệt các nhà đầu tư nhỏ lẻ ngày càng phát triển.

Cần nâng cao nhận thức của nhà đầu về quyền lợi và lợi ích hợp pháp được bảo vệ trên thị trường chứng khoán.

Trước những yêu cầu thực tiến và lý luận trên đây, việc nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về tính khoa học và thực tiễn về quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán là hết sức cần thiết.

11.2. Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá công tác bảo vệ nhà đầu tư của cơ quan quản lý thông qua các công cụ pháp luật và tài chính đang được áp dụng

- Nghiên cứu các mô hình quốc tế về quỹ bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán và đưa ra một số khuyến nghị về mô hình áp dụng cho Việt Nam.

11.3. Nội dung đề tài

Chương I: Cơ sở lý luận về bảo vệ nhà đầu tư trên TTCK và các mô hình quỹ bảo vệ nhà đầu tư trên thế giới

Chương II: Thực trạng bảo vệ nhà đầu tư trên TTCK và sự cần thiết áp dụng quỹ bảo vệ nhà đầu tư tại Việt Nam.

Chương III: Đề xuất mô hình quỹ bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

12. ĐỀ TÀI UB.14.12. “GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ ĐẢM BẢO TUÂN THỦ CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CỦA VIỆT NAM”

Chủ nhiệm đề tài:   Ths. Nguyễn Thu Hiền

Đơn vị chủ trì:  Tạp chí Chứng khoán

12.1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng Giêng 2007, thể hiện nỗ lực tích cực, chủ động hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Việc gia nhập vào tổ chức thương mại toàn cầu này đặt ra những cam kết cụ thể cho các ngành, các lĩnh vực, trong đó có TTCK Việt Nam trong việc mở cửa thị trường theo lộ trình đã cam kết. Cam kết mở cửa TTCK khi gia nhập WTO thể hiện định hướng mở cửa nền kinh tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tích cực gắn kết nền kinh tế trong nước với bối cảnh kinh tế khu vực và toàn cầu.

Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là TPP) là một Hiệp định thương mại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương. Các cam kết cũng thể hiện định hướng hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng tài chính thế giới và khu vực. Ngày 13/11/2010, Việt Nam tuyên bố tham gia vào TPP với tư cách thành viên đầy đủ. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực đàm phán với các nước để đi tới chính thức ký kết Hiệp định tự do hóa thương mại trong năm 2014. Đối với lĩnh vực TTCK, Việt Nam tham gia đàm phán trên cơ sở các bản chào về mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán tại Chương Dịch vụ tài chính của Hiệp định.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác khác, cũng đòi hỏi cam kết mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán hoặc đặt ra các yêu cầu đối với cơ quan quản lý TTCK là UBCKNN. Đó là các cơ chế hợp tác trong khuôn khổ hợp tác tài chính ASEAN, cơ chế hợp tác trong quản lý TTCK của IOSCO.

Các cam kết quốc tế, đặc biệt là các cam kết trong WTO và TPP đặt ra yêu cầu về việc mở cửa thị trường đối với một số các dịch vụ chứng khoán mà Chính phủ Việt Nam cam kết vẫn còn rất mới với nhiều tổ chức kinh doanh và nhà đầu tư trong nước. Trong khi đó, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động này còn đang trong giai đoạn mới hình thành và còn chưa đầy đủ. Điều này đặt ra thách thức cho các nhà hoạch định chính sách phải sửa đổi, bổ sung kịp thời, một mặt đảm bảo tuân thủ các cam kết quốc tế, mặt khác tạo hành lang pháp lý cho tổ chức kinh doanh trong nước và nước ngoài, đồng thời có biện pháp giám sát, quản lý thích hợp trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

12.2. Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu của đề tài là nhằm nghiên cứu các vấn đề cơ bản, bản chất của các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK, rà soát khung pháp lý hiện hành theo các cam kết, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý đảm bảo tuân thủ các cam kết quốc tế.

Mục tiêu cụ thể: Trên cơ sở nghiên cứu bản chất, phạm vi, mức độ của các cam kết quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK, kết hợp với phân tích thực trạng khung pháp lý của Việt Nam về TTCK, đề tài đặt mục tiêu cụ thể là xác định được những “khoảng cách” giữa các quy định trong khung pháp lý so với các yêu cầu của cam kết quốc tế, đề xuất những giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính khả thi nhằm đảm bảo cho các quy định pháp lý của Việt Nam về TTCK tuân thủ đầy đủ theo các cam kết quốc tế.

12.3. Nội dung đề tài

Chương I: Tổng quan về các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Chương II: Rà soát khung pháp lý của Việt Nam theo các cam kết quốc tế và chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Chương III: Giải pháp hoàn thiện khung pháp lý đảm bảo tuân thủ cam kết quốc tế về lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán của Việt Nam.

Các tin khác