Skip to content
ssc.gov.vn
Thị trường chứng khoán phái sinh
Chứng quyền có bảo đảm sắp ra mắt trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
14/05/2019

Sau khi Nghị định số 60/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành vào ngày 26/06/2015, ngày 29/06/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 107/2016/TT-BTC hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm, tạo hành lang pháp lý cho sự ra đời của sản phẩm chứng quyền có bảo đảm. Sau một thời gian chuẩn bị, sản phẩm chứng quyền có bảo đảm (Cover Warrant) chuẩn bị ra mắt trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Với mong muốn giúp nhà đầu tư có thêm thông tin và hiểu biết sâu hơn về chứng quyền có bảo đảm, chúng tôi xin giới thiệu về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm, cơ chế vận hành và kiểm soát rủi ro khi giao dịch chứng quyền có bảo đảm tại Việt Nam.

Chứng quyền có bảo đảm là chứng khoán cho phép người sở hữu có quyền (không phải là nghĩa vụ) bán hoặc mua tài sản tài chính cơ sở (thường là cổ phiếu, chỉ số,...) tại một mức giá được xác định trước, vào hoặc trước một thời điểm được xác định. Chứng quyền có bảo đảm do các định chế tài chính (thường là các ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán) phát hành và được niêm yết, giao dịch trên các sở giao dịch chứng khoán. Chứng quyền có bảo đảm được giao dịch trên thị trường chứng khoán cơ sở, có cơ chế giao dịch và thanh toán tương tự như các sản phẩm chứng khoán cơ sở khác như cổ phiếu, trái phiếu. Chứng quyền có bảo đảm là một sản phẩm phổ biến tại nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới với các tên gọi khác nhau như: Chứng quyền có bảo đảm - Covered Warrant (Anh, Đức, Úc, Canada), chứng quyền phái sinh - Derivatives Warrant (Hồng Kông, Thái Lan), chứng quyền cơ cấu - Structured Warrant (Malaysia), chứng quyền mua/bán - Call/put Warrant (Đài Loan), chứng quyền gắn với cổ phiếu - Equity-linked warrant (Hàn Quốc).

Theo định nghĩa tại Nghị định số 60/2015/NĐ-CP của Chính phủ, chứng quyền có bảo đảm là chứng khoán có tài sản đảm bảo do công ty chứng khoán phát hành, cho phép người sở hữu được quyền mua (chứng quyền mua) hoặc được quyền bán (chứng quyền bán) chứng khoán cơ sở (bao gồm cổ phiếu, chỉ số hoặc chứng chỉ quỹ ETF) cho tổ chức phát hành chứng quyền đó theo một mức giá đã được xác định trước, tại hoặc trước một thời điểm đã được ấn định, hoặc nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện.

Chứng quyền có bảo đảm được phân thành các loại sau:

- Căn cứ vào quyền của người nắm giữ: chứng quyền được phân thành chứng quyền mua và chứng quyền bán. Chứng quyền mua cho phép người nắm giữ mua chứng khoán cơ sở tại một mức giá, tại hoặc trước một thời điểm được xác định trước. Chứng quyền bán cho phép người nắm giữ được quyền bán chứng khoán cơ sở tại một mức giá, tại hoặc trước một thời điểm được xác định.

- Căn cứ thời điểm thực hiện quyền: chứng quyền được phân thành hai kiểu là chứng quyền kiểu Châu Âu và chứng quyền kiểu Mỹ. Chứng quyền kiểu Châu Âu cho phép người sở hữu thực hiện quyền tại ngày đáo hạn. Chứng quyền kiểu Mỹ cho phép người sở hữu được thực hiện quyền tại bất cứ thời điểm nào trước ngày đáo hạn của chứng quyền.

- Căn cứ vào phương thức thực hiện quyền: có hai phương thức thực hiện quyền là chuyển giao vật chất và thanh toán bằng tiền. Phương thức chuyển giao vật chất là việc vào ngày thực hiện quyền tổ chức phát hành chứng quyền phải chuyển giao các chứng khoán cơ sở cho người sở hữu chứng quyền tại mức giá được xác định trước. Phương thức thanh toán bằng tiền là việc tổ chức phát hành chứng quyền thanh toán phần chênh lệch giữa giá thị trường vào thời điểm thực hiện quyền và giá xác định khi chứng quyền được phát hành.

Trong giai đoạn đầu, Bộ Tài chính dự kiến triển khai sản phẩm chứng quyền có bảo đảm có cấu trúc và phương thức thực hiện đơn giản mà hầu như các nước trên thế giới đều triển khai lúc ban đầu. Đó là sản phẩm chứng quyền mua dựa trên chứng khoán cơ sở là cổ phiếu niêm yết, thực hiện quyền kiểu Châu Âu và có phương thức thanh toán bằng tiền. Chứng khoán cơ sở của chứng quyền là các cổ phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và đáp ứng các tiêu chí về giá trị vốn hóa, khối lượng hoặc giá trị giao dịch, tỷ lệ tự do chuyển nhượng, kết quả kinh doanh…

Cơ chế vận hành của chứng quyền có bảo đảm là một chuỗi các hoạt động bắt đầu từ khâu đăng ký chào bán và kết thúc bằng hoạt động thực hiện quyền của nhà đầu tư khi chứng quyền đáo hạn.

- Giai đoạn chào bán: Tổ chức phát hành (công ty chứng khoán) đăng ký chào bán với Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng quyền, tổ chức phát hành thực hiện chào bán, phân phối cho nhà đầu tư.

- Giai đoạn niêm yết, giao dịch: Toàn bộ số chứng quyền được phép chào bán sẽ được lưu ký tại Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK) và niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (SGDCK). Chứng quyền có bảo đảm giao dịch tương tự như đối với cổ phiếu về thời gian giao dịch, phương thức khớp lệnh, lệnh giao dịch, nguyên tắc xác định giá, chu kỳ thanh toán.

- Giai đoạn thực hiện chứng quyền: Vào ngày đáo hạn, trường hợp chứng quyền ở trạng thái có lãi, tổ chức phát hành phải thanh toán bằng tiền khoản chênh lệch giữa giá thanh toán và giá thực hiện quyền cho nhà đầu tư.

Vai trò của các chủ thể trên thị trường

- UBCKNN: thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với toàn bộ hoạt động của thị trường chứng quyền thông qua việc ban hành các quy chế và văn bản hướng dẫn liên quan, cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng quyền có bảo đảm, giám sát việc công bố danh sách chứng khoán đáp ứng điều kiện làm chứng khoán cơ sở chào bán chứng quyền có bảo đảm của SGDCK.

- SGDCK: có trách nhiệm thẩm định tính hợp lệ của việc niêm yết chứng quyền, giám sát hoạt động giao dịch, hoạt động tạo lập thị trường, hoạt động phòng ngừa rủi ro (hedging), việc thực hiện trách nhiệm công bố thông tin, việc tuân thủ các điều kiện về duy trì các điều kiện niêm yết, tỷ lệ lưu hành của từng loại chứng quyền. Ngoài ra, định kỳ SGDCK thực hiện việc công bố danh sách các chứng khoán đáp ứng được điều kiện làm chứng khoán cơ sở và công bố giá thanh toán cho các chứng quyền đáo hạn.

- TTLKCK: thực hiện chức năng đăng ký và lưu ký, thanh toán các giao dịch trên thị trường thứ cấp, phối hợp với tổ chức phát hành và các thành viên giao dịch, lưu ký để thực hiện quyền cho các nhà đầu tư.

- Tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm: Có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ về tạo lập thị trường nhằm cung cấp thanh khoản cho các nhà đầu tư; thực hiện hoạt động phòng ngừa rủi ro nhằm đảm bảo khả năng thanh toán và thực hiện việc thanh toán cho các chứng quyền đến hạn.

- Ngân hàng lưu ký: thực hiện việc quản lý và giám sát tài sản ký quỹ của tổ chức phát hành nhằm đảm bảo thanh toán cho các chứng quyền đã phát hành, đồng thời phong tỏa tài sản đảm bảo này trong suốt vòng đời của chứng quyền.

- Nhà đầu tư: tham gia mua, bán chứng quyền nhằm các mục tiêu phòng ngừa rủi ro cho danh mục chứng khoán cơ sở (hedging), đầu cơ (speculation) và tìm kiếm chênh lệch giá (arbitrage).

Tác động của sản phẩm chứng quyền có bảo đảm

- Đối với nhà đầu tư: Chứng quyền sẽ cung cấp thêm một công cụ phòng ngừa rủi ro cũng như là gia tăng lựa chọn về sản phẩm đầu tư với khoản chi phí thấp hơn so với cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ. Nhà đầu tư có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận từ sản phẩm có tính đòn bẩy cao này bằng việc áp dụng linh hoạt nhiều chiến lược đầu tư theo ý muốn như đầu tư, đầu cơ, phòng vệ vị thế và quản lý danh mục đầu tư. Vì vậy, nhà đầu tư cần có hiểu biết nhất định về sản phẩm chứng quyền và nghiên cứu kỹ bản cáo bạch của CTCK phát hành sản phẩm chứng quyền để có quyết định đầu tư chính xác, hiệu quả, hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư.

- Đối với công ty chứng khoán (CTCK): việc tham gia phát hành chứng quyền sẽ tạo điều kiện để CTCK mở rộng hoạt động kinh doanh và gia tăng doanh thu cho chính mình như: nghiệp vụ phát hành sản phẩm đầu tư, môi giới với nhiều nguồn khách hàng tiềm năng trong và ngoài nước. Quy định về tổ chức phát hành phải thực hiện tạo lập thị trường cho chứng quyền của chính mình cũng là bước chuẩn bị hiệu quả để các CTCK có thể tích lũy kinh nghiệm để trở thành các tổ chức tạo lập thị trường cho phái sinh cũng như thị trường cổ phiếu tại Việt Nam trong tương lai. Chứng quyền ra đời tại Việt Nam hứa hẹn sẽ tạo một bước nhảy vọt trong quá trình tài cấu trúc và cải thiện chất lượng hoạt động của các CTCK nói chung. Để có thể phát hành sản phẩm thành công, CTCK phải tăng cường củng cố và phát triển đội ngũ nhân sự có chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm cũng như đẩy mạnh đầu tư cho hệ thống, cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại nhằm tạo lợi thế khi thực hiện được các nghiệp vụ đặc thù như phòng ngừa rủi ro (hedging) và tạo lập thị trường cho sản phẩm. Hơn nữa, khi chứng quyền đi vào hoạt động và đón nhận được những tín hiệu tốt và sự hưởng ứng của các nhà đầu tư, các CTCK chưa đủ điều kiện sẽ cố gắng để có thể đủ tiêu chuẩn phát hành. Điều này góp phần cải thiện mặt bằng chung về năng lực và chất lượng cung cấp dịch vụ của các tổ chức trung gian trên TTCK. Bên cạnh đó, việc ra đời sản phẩm này cũng góp phần thu hút sự gia nhập và cạnh tranh của những CTCK có vốn nước ngoài có kinh nghiệm hơn về chứng quyền và chứng khoán phái sinh.

- Đối với thị trường chứng khoán: sản phẩm chứng quyền được triển khai sẽ góp phần hoàn thiện cấu trúc TTCK nói chung vốn chỉ đang giao dịch với các sản phẩm cơ bản là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ. Đặc biệt, sản phẩm chứng quyền bán (put warrant) được giao dịch trên thị trường sẽ xóa tan các định kiến về TTCK Việt Nam vốn được đánh giá là thị trường giao dịch một chiều. Khi giá cổ phiếu tăng nhà đầu tư ồ ạt mua vào, khi giá cổ phiếu giảm nhà đầu tư bán tháo như một cách nhấn chìm giá của thị trường. Chứng quyền cũng được kỳ vọng mang lại một luồng gió mới cho khối nhà đầu tư ngoại, trong việc nâng cao khả năng tìm kiếm cơ hội đầu tư đối với các công ty niêm yết có kết quả kinh doanh tốt mà nếu chỉ bằng giao dịch bằng cổ phiếu vật chất, các cổ phiếu chưa nới room ngoại là những rào cản lớn.

Theo nghiên cứu và đánh giá tại thị trường Hồng Kông và Đài Loan, việc triển khai và giao dịch chứng quyền chưa ghi nhận tác động tiêu cực nào lên thị trường cổ phiếu mà ngược lại, nó có tác động thúc đẩy giao dịch trên thị trường cổ phiếu. Chính vì vậy, phát triển thị trường chứng quyền sẽ góp phần thúc đẩy thanh khoản đồng thời từng bước giúp thị trường cổ phiếu tăng trưởng ổn định và bền vững.

Mặc dù với rất nhiều lợi thế và tiềm năng để phát triển, chứng quyền vẫn luôn tiềm ẩn những rủi ro nhất định mà các nhà đầu tư hay chính những tổ chức phát hành luôn phải đối mặt. Việc chứng quyền được phát hành bởi các công ty chứng khoán cũng là một vấn đề đòi hỏi phải chấp nhận rủi ro từ phía nhà đầu tư, bởi khi các nhà phát hành gặp khó khăn về tài chính có thể ảnh hưởng đến việc thanh toán chi trả cho nhà đầu tư.

Rủi ro và kiểm soát rủi ro khi triển khai sản phẩm chứng quyền có bảo đảm

- Rủi ro tổ chức phát hành bị mất khả năng thanh toán: Vào thời điểm đáo hạn, nếu chứng quyền có bảo đảm có lãi, CTCK là tổ chức phát hành phải thực hiện thanh toán cho nhà đầu tư. Tổ chức phát hành mất khả năng thanh toán sẽ gây thiệt hại cho các nhà đầu tư sở hữu chứng quyền có bảo đảm và ảnh hưởng đến thị trường. Hiện nay, các văn bản pháp luật đã quy định một số điều kiện đối với tổ chức phát hành (điều kiện phát hành chứng quyền, ký quỹ đảm bảo thanh toán, hạn mức chào bán, nghĩa vụ phòng ngừa rủi ro của tổ chức phát hành) để đảm bảo khả năng thanh toán của tổ chức phát hành.

- Rủi ro thao túng giá chứng quyền: Sau khi được phát hành, chứng quyền sẽ được niêm yết trên SGDCK như cổ phiếu. Việc tổ chức phát hành hoặc một hoặc một nhóm nhà đầu tư kiểm soát nguồn cung chứng quyền có bảo đảm có thể làm cho giá chứng quyền có bảo đảm khác xa so với giá trị nội tại của chứng quyền có bảo đảm. Việc cho phép phát hành chứng quyền có bảo đảm bổ sung với thời gian xét duyệt hồ sơ đăng ký chào bán được rút ngắn để đảm bảo kịp thời bổ sung nguồn cung mới cho thị trường, hay quy định hạn mức phát hành chứng quyền có bảo đảm đối với từng tổ chức phát hành, cho phép nhiều tổ chức phát hành được phát hành chứng quyền trên cùng một cổ phiếu cơ sở để tạo ra sự cạnh tranh về giá chứng quyền có bảo đảm giữa các tổ chức phát hành, hạn chế việc thao túng giá chứng quyền có bảo đảm. Ngoài ra, hàng ngày SGDCK giám sát chặt chẽ việc việc yết giá tạo lập thị trường của tổ chức phát hành để tránh việc thao túng giá của chính tổ chức phát hành.

- Rủi ro thao túng giá chứng khoán cơ sở: Giá của cổ phiếu cơ sở ngày đáo hạn là cơ sở để xác định nghĩa vụ thanh toán của tổ chức phát hành. Vì vậy có thể phát sinh hoạt động thao túng giá cổ phiếu cơ sở vào ngày giao dịch cuối cùng trước khi chứng quyền có bảo đảm đáo hạn. Tại Thông tư 107/2016/TT-BTC đã có quy định về điều kiện trở thành cổ phiếu cơ sở của chứng quyền, hạn mức chào bán đối với một chứng khoán cơ sở, phương thức xác định giá thanh toán,… để hạn chế việc thao túng giá chứng khoán cơ sở của chứng quyền.

Quản lý, giám sát chứng quyền có bảo đảm

UBCKNN, SGDCK, TTLKCK đã xây dựng cơ chế phối hợp trong việc giám sát chứng quyền có bảo đảm từ khâu chào bán, phân phối, niêm yết, giao dịch chứng quyền đến khâu thanh toán, thực hiện chứng quyền để đảm bảo các hoạt động này tuân thủ quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích của nhà đầu tư khi tham gia giao dịch chứng quyền có bảo đảm.

Công tác chuẩn bị ra mắt sản phẩm chứng quyền có bảo đảm

  Đến nay, công tác chuẩn bị ra mắt sản phẩm chứng quyền có bảo đảm về cơ bản đã hoàn thành từ phía cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức phát hành bao gồm khung pháp lý, quy trình thực hiện, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhân sự quản lý, vận hành sản phẩm,… SGDCK đã hoàn tất thử nghiệm hệ thống giao dịch chứng quyền có bảo đảm với toàn bộ CTCK thành viên. Kết quả thử nghiệm đạt yêu cầu và sẵn sàng cho việc triển khai giao dịch chứng quyền có bảo đảm.

  Chúng tôi hi vọng việc ra đời sản phẩm chứng quyền có bảo đảm sẽ góp phần đa dạng hóa sản phẩm, hoàn thiện cấu trúc sản phẩm trên thị trường và là một trong những giải pháp nhằm cơ cấu lại hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến năm 2025” đã được Chính Phủ phê duyệt.

Vụ Quản lý kinh doanh - UBCKNN


Các tin khác