Skip to content
Ủy ban chứng khoán nhà nước
Giới thiệu các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp ủy ban năm 2018
Đăng ngày:  19/09/2018

GIỚI THIỆU CÁC NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP ỦY BAN NĂM 2018

I. ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1. ĐỀ TÀI UB.18.01 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY QUẢN LÝ, GIÁM SÁT THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC

Chủ nhiệm đề tài:     Thạc sỹ Đặng Tài An Trang

Đơn vị chủ trì:     Vụ Tổ chức cán bộ    

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) là cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán (TTCK); có nhiệm vụ trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động chứng khoán và TTCK; quản lý các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng khoán, TTCK theo qui định của pháp luật.

Từ khi thành lập cho đến nay, cùng với sự vận động, phát triển của TTCK nói riêng; điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nói chung của Việt Nam, các nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBCKNN đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung. Những điều chỉnh này giúp cho mô hình tổ chức và hoạt động của UBCKNN theo kịp sự phát triển của TTCK, đáp ứng các thông lệ quốc tế và các nguyên tắc, khuyến nghị của Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (IOSCO) về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, giám sát TTCK.

Tuy nhiên, TTCK Việt Nam vẫn đang trong quá trình phát triển với quy mô ngày càng tăng và tính chất ngày càng phức tạp. Theo đó, mô hình tổ chức và hoạt động của UBCKNN vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện để hướng đến một mô hình thực tiễn tốt nhất trên cơ sở nguyên tắc, khuyến nghị của IOSCO. Trong bối cảnh đó, đề tài “Định hướng và giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động của bộ máy quản lý, giám sát TTCK tại UBCKNN” có thể xem là sự chuẩn bị trước nhằm đảm bảo cơ sở khoa học cho những sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của UBCKNN và các đơn vị thuộc, trực thuộc Ủy ban trong thời gian tới để hoạt động của Ủy ban ngày càng hoàn thiện hơn, từ đó đóng góp quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, giám sát TTCK được Chính phủ, Bộ Tài chính giao.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- Nghiên cứu, phân tích các nguyên tắc, khuyến nghị của tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán – IOSCO về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, giám sát TTCK.

- Nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý, giám sát TTCK của các nước. Phân tích, đánh giá các nguyên tắc trong việc tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý, giám sát TTCK các nước, từ đó đề xuất bài học cho Việt Nam.

- Đánh giá triển vọng TTCK và những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, giám sát; chức năng, nhiệm vụ của UBCKNN để từ đó đưa ra định hướng phát triển, hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của UBCKNN.

1.3 Nội dung đề tài:

Chương 1: Mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý, giám sát TTCK

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của UBCKNN và các đơn vị thuộc, trực thuộc.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của UBCKNN.

2. ĐỀ TÀI UB.18.02 NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CƠ SỞ VÀ NGƯỢC LẠI - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM.

Chủ nhiệm đề tài:     Thạc sỹ Vũ Chí Dũng

Đơn vị chủ trì :     Vụ Hợp tác quốc tế

2.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Sau một thời gian dài chuẩn bị về các điều kiện pháp lý và cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thị trường chứng khoán phái sinh chính thức đi vào hoạt động tháng 8/2017 bên cạnh một thị trường chứng khoán cơ sở với bề dày lịch sử 17 năm. Việt Nam đã trở thành quốc gia thứ 5 trong khu vực sau Singapore, Malaysia, Indonesia và Thái Lan là quốc gia thứ 42 trên thế giới có thị trường bậc cao này. Sự ra đời của TTCK phái sinh được kỳ vọng sẽ góp phần làm phong phú hơn sự lựa chọn của nhà đầu tư, thu hút thêm các nhà đầu tư mới vào thị trường, tăng tính thanh khoản cho thị trường cơ sở và mang đến một cơ chế phòng ngừa rủi ro hiệu quả. Tuy nhiên, việc làm thế nào để có thể tận dụng sự phát triển sẵn có của thị trường cơ sở, vận hành thành công TTCK phái sinh; và ngược lại, ngăn ngừa những rủi ro xảy đến với TTCK phái sinh có khả năng ảnh hưởng đến thị trường cơ sở cần phải được tìm hiểu, nghiên cứu kỹ càng. Hiểu được mối quan hệ và tác động qua lại giữa hai thị trường này có thể giúp dự liệu và quản lý những rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra trong tương lai, đảm bảo cho cả hai thị trường có thể vận hành hiệu quả, giữ vững được lòng tin của nhà đầu tư đối với thị trường.

2.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Mục tiêu của đề tài là đánh giá tác động của TTCKPS đối với TTCK cơ sở và ngược lại. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình phát triển TTCKPS, giảm những tác động tiêu cực của TTCKPS lên TTCK cơ sở để thúc đẩy hơn nữa sự phát triển bền vững của cả hai thị trường.

2.3 Nội dung đề tài:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động giữa TTCKPS và thị trường cơ sở

Chương 2: Thị trường Chứng khoán hái sinh Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp giảm thiểu sự tác động tiêu cực giữa (TTCK) cơ sở và (TTCK) phái sinh

3. ĐỀ TÀI UB.17.03: KIỂM SOÁT RỦI RO CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài:   Thạc sỹ Phùng Nam Thái

Đơn vị chủ trì:   Vụ Phát triển thị trường

3.1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua 17 năm hình thành và phát triển, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, trở thành kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, từng bước trưởng thành cả về quy mô và chất lượng hàng hóa dịch vụ. Để tiếp tục phát triển, nhanh chóng hội nhập với thị trường quốc tế, một trong những mục tiêu mà Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2020 hướng đến là “phát triển TTCK đồng bộ về các yếu tố cung – cầu; tăng quy mô và chất lượng hoạt động, đa dạng hóa các sản phẩm, nghiệp vụ đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả và trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế”.

  Để thực hiện chiến lược đã đề ra, Đề án xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) tại Việt Nam được ban hành kèm theo Quyết định số 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 11/03/2014. Sau nhiều công tác chuẩn bị về khung khổ pháp lý, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và nhân lực, ngày 10/8/2017, TTCKPS Việt Nam chính thức đi vào hoạt động với sản phẩm đầu tiên được niêm yết và giao dịch là Hợp đồng tương lai dựa trên chỉ số cổ phiếu VN30. Sự kiện này thể hiện một bước tiến lớn của TTCK Việt Nam, góp phần thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, cả phòng ngừa rủi ro và đa dạng hóa sản phẩm.

  Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, các sản phẩm mới như chứng khoán phái sinh cũng tiềm ẩn những rủi ro đòi hỏi có sự quản lý chặt chẽ, thận trọng của cơ quan quản lý các cấp. Trong quá khứ, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 với sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng, thị trường chứng khoán lao dốc và mất giá tiền tệ tại Mỹ cùng nhiều nước châu Âu vẫn là những bài học cho thấy sự an toàn của các giao dịch và thanh toán bù trừ phái sinh cần phải được đảm bảo trước tiên vì chỉ cần một thành viên trên thị trường phá sản cũng có thể làm ảnh hưởng đến cả hệ thống tài chính. Lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh thế giới cũng từng chứng kiến những sự đổ vỡ của các định chế tài chính lớn như vụ phá sản của ngân hàng Barings (Anh quốc) gắn liền với những thua lỗ của các hợp đồng tương lai (futures contract), hoặc sự sụp đổ của quỹ đầu tư Long-term Capital Management (LTCM) cũng có liên quan đến các sản phẩm phái sinh. Hay có thể thấy tiến trình phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Trung Quốc cũng là một trong những bài học quý báu cho Việt Nam.

  Chính vì vậy, một trong những yêu cầu cấp thiết đặt ra khi vận hành thị trường chứng khoán phái sinh là công tác kiểm soát rủi ro. Đề tài này được thực hiện nhằm tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn để triển khai hiệu quả công tác này trên thị trường CKPS ở Việt Nam.

3.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- Nghiên cứu tổng quan về các sản phẩm chứng khoán phái sinh, một số mặt tích cực và rủi ro khi vận hành những sản phẩm này và các nhân tố tác động đến công tác kiểm soát rủi ro đối với toàn TTCKPS;

- Nghiên cứu và tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về các sự cố rủi ro đối với CKPS và giải pháp kiểm soát, phòng ngừa rủi ro của mỗi nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho TTCKPS Việt Nam;

- Phân tích thực trạng hoạt động kiểm soát rủi ro đối với chứng khoán phái sinh tại Việt Nam;

- Một số giải pháp kiểm soát rủi ro cho TTCKPS Việt Nam.

3.3 Nội dung của đề tài:

Chương 1: Khái quát chung về chứng khoán phái sinh và kiểm soát rủi ro chứng khoán phái sinh

Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát rủi ro đối với sản phẩm chứng khoán phái sinh và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương 3: Kiểm soát rủi ro đối với (TTCK) phái sinh Việt Nam

4. ĐỀ TÀI UB.18.04: QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIAO DỊCH KÝ QUỸ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM.

Chủ nhiệm đề tài:   CN. Trần Phương Quỳnh

Đơn vị chủ trì:     Vụ Quản lý kinh doanh

4.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Giai đoạn 2010-2013 là giai đoạn nhiều khó khăn và thách thức đối với các công ty chứng khoán tại Việt Nam. Môi trường kinh doanh khắc nghiệt đã sàng lọc và loại bỏ các định chế tài chính trung gian yếu kém, dẫn đến nhiều công ty chứng khoán trên đà phá sản, phải thu hẹp hoặc từ bỏ các hoạt động nghiệp vụ chính. Rất nhiều CTCK thua lỗ nặng nề chủ yếu do hai nguyên nhân chính từ hoạt động tự doanh và thực hiện các hợp đồng hợp tác đầu tư mà không thu được các khoản phải thu từ phía đối tác.

Trước tình hình đó, việc công ty chứng khoán cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán, có đảm bảo bằng tài sản (giao dịch ký quỹ - margin) lần đầu tiên được quy định tại Thông tư 74/2011/TT-BTC ngày 1/6/2011 hướng dẫn về giao dịch chứng khoán, sau đó là Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán tại ban hành kèm Quyết định 87/QĐ-UBCK (trước là Quyết định 637/QĐ-UBCK ngày 30/8/2011). Đồng thời, việc tính toán rủi ro của công ty chứng khoán được lượng hóa theo Thông tư 226/2010/TT-BTC (hiện nay đã được thay thế bằng Thông tư 87/2017/TT-BTC) nhằm tính tỷ lệ an toàn tài chính của các công ty chứng khoán. Tuy nhiên, khi thị trường diễn biến không thuận lợi, việc mất khả năng thanh toán của khách hàng dẫn đến các công ty chứng khoán phải gánh chịu tổn thất vẫn là một vấn đề lớn tồn tại. Một số công ty chứng khoán bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt để khắc phục tình hình tài chính. Ngoài ra, còn nhiều công ty chứng khoán bị mất khả năng thanh toán, gây ra rủi ro lớn, bị đình chỉ hoạt động. Để kiểm soát tốt hơn tình hình quản trị rủi ro tại công ty chứng khoán, Quy chế hướng dẫn thiết lập và thực hiện quản trị rủi ro cho công ty chứng khoán được ban hành kèm theo Quyết định 105/QĐ-UBCK ngày 26/2/2013, tiếp sau đó là Quy chế hướng dẫn xếp loại CTCK theo tiêu chuẩn CAMEL ban hành kèm theo Quyết định số 617/QĐ-UBCK ngày 9/10/2013 nhằm cảnh báo sớm rủi ro của công ty chứng khoán.

Sau hơn ba năm thực hiện Quy chế quản trị rủi ro, các công ty chứng khoán đã bước đầu xây dựng được chính sách rủi ro và thiết lập nên khung quản trị rủi ro tại công ty của mình, thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của quản lý rủi ro. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được cũng vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế. Để thúc đẩy việc thực hành quản trị rủi ro một cách thực chất ở các công ty chứng khoán, cơ quan quản lý cần thể chế hóa các quy trình quản trị từng loại rủi ro trọng yếu cụ thể. Trong số các rủi ro trọng yếu mà các công ty chứng khoán phải đối mặt, rủi ro hoạt động giao dịch ký quỹ là một trong những rủi ro tiềm tàng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng hoạt động của các công ty thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai. Do vậy, việc nghiên cứu về quản trị rủi ro cho hoạt động giao dịch ký quỹ là vấn đề cấp thiết đối với cơ quan quản lý nhằm đưa ra các khuyến nghị, khung pháp lý phù hợp với các công ty chứng khoán.

4.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu và tìm hiểu các thông lệ về quản trị rủi ro đối với CTCK

- Nghiên cứu về các hoạt động giao dịch ký quỹ và đưa ra khung pháp lý hợp lý, các quy trình, quy định nhằm bổ sung, làm rõ quy định về quản trị rủi ro đối với CTCK (cụ thể là Quy chế hướng dẫn việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho công ty chứng khoán ban hành kèm Quyết định 105/QĐ-UBCK ngày 26/02/2013).

4.3 Nội dung đề tài:

Chương I: Khái quát chung về rủi ro và quản trị rủi ro hoạt động giao dịch ký quỹ

Chương II: Thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro hoạt động giao dịch ký quỹ và những bài học rút ra cho Việt Nam.

Chương III: Khuyến nghị thể chế hóa qui định quản trị rủi ro hoạt động giao dịch ký quỹ áp dụng cho CTCK tại Việt Nam.

5. ĐỀ TÀI UB.18.05 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ LOẠI HÌNH QUỸ MỚI VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TẠI VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài:   Thạc sỹ Nguyễn Quang Long

Đơn vị chủ trì:     Vụ Quản lý quỹ

5.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Hiện nay hệ thống các văn bản pháp quy về các sản phẩm quỹ đầu tư chứng khoán đã có độ bao trùm tương đối đầy đủ; dựa vào đó, giới đầu tư có thể tự triển khai các sản phẩm với mục tiêu đầu tư và chiến lược đầu tư khác nhau. Tuy nhiên, quy định pháp lý hiện đang chỉ định hình các loại hình quỹ thông dụng trên thị trường với mục đích thiết kế phù hợp với giai đoạn đầu phát triển thị trường quản lý quỹ, chưa có khung pháp lý về các loại hình quỹ khác mang tính phức tạp hơn. Trên thế giới, khi thị trường phát triển đến mức cao, nhu cầu của nhà đầu tư trở nên đa dạng hơn thì sẽ phát sinh nhu cầu về các loại hình quỹ mới.

Từ năm 2015 tới nay, TTCK Việt Nam đã chứng kiến sự phục hồi mạnh mẽ và bền vững hơn, cùng với đó là đội ngũ người hành nghề chứng khoán đông đảo, có chất lượng hơn so với giai đoạn trước. Thực tế cho thấy, một số công ty quản lý quỹ có nhu cầu thực hiện các nghiệp vụ đầu tư để nắm bắt cơ hội, đồng thời, cũng có công ty muốn phát triển một số sản phẩm mới nhưng chưa thể thực hiện được do quy định chưa cho phép. Cụ thể, các sản phẩm quỹ đầu tư chưa thể thực hiện bao gồm: Quỹ Mẹ - Con (Master-feeder Fund); Quỹ của quỹ (Fund of funds); Quỹ đòn bẩy (bao gồm cả Quỹ ETF đòn bẩy – Leveraged ETF hoặc Inversed ETF) do các loại hình quỹ này có đặc điểm là 1 quỹ nắm giữ chứng chỉ quỹ của quỹ khác và có tính đòn bẩy...

  Để bắt kịp với sự thay đổi trong tương lai, với vai trò là cơ quan quản lý, giám sát các hoạt động của thị trường chứng khoán, việc nghiên cứu chi tiết hơn về các sản phẩm quỹ đã nêu là cần thiết để tạo cơ sở nền tảng cho việc đề xuất khung pháp lý, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu theo bước tiến của thị trường trong giai đoạn tiếp theo.

5.2 Mục tiêu nghiên cứu:

  Nghiên cứu về các loại hình Quỹ Mẹ - Con (Master-feeder Fund); Quỹ của quỹ (Fund of funds); Quỹ được quản lý bởi nhiều công ty quản lý quỹ; Quỹ đòn bẩy (bao gồm cả Quỹ ETF đòn bẩy – Leveraged ETF hoặc Inversed ETF...) trên các khía cạnh:

- Nghiên cứu chi tiết về rủi ro, lợi ích của các sản phẩm quỹ mới;

- Tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về việc quản lý, giám sát các loại hình quỹ này;

- Nhận định và đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với giai đoạn phát triển của thị trường.

5.3 Nội dung đề tài:

Chương 1. Khái niệm, cấu trúc và cơ chế vận hành

Chương 2. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Chương 3. Đề xuất mô hình cho Việt Nam

6. ĐỀ TÀI UB.17.06 VỐN HÓA NỢ TRONG TÁI CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CÔNG TY ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG, KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP.

Chủ nhiệm đề tài:   Thạc sỹ Lê Trung Hải

Đơn vị chủ trì:     Vụ Quản lý chào bán

6.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Thời gian qua, trên thị trường đã xuất hiện tình trạng các công ty đại chúng phát hành cổ phiếu riêng lẻ nhằm vốn hóa khoản nợ của công ty, đặc biệt là các khoản nợ đã được gia hạn của các công ty sản xuất kinh doanh thua lỗ hoặc có lỗ lũy kế.

Phát hành cổ phiếu để vốn hóa nợ có thể đem lại sự hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp thoát khỏi áp lực trả nợ đối với các chủ. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp phát hành không có chiến lược kinh doanh đúng đắn, việc vốn hóa nợ qua phát hành cổ phiếu sẽ đẩy công ty vào tình trạng phá sản, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông. Do đó, một trong những yêu cầu cấp thiết đặt ra là làm sao vừa dung hòa được việc hỗ trợ tài chính doanh nghiệp; vừa đảm bảo được quyền lợi cổ đông. Đứng từ giác độ cơ quan quản lý, điều này đòi hỏi có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, nghiêm túc cả về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng và ban hành chính sách cũng như thực thi giám sát hiệu quả.

6.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng phát hành cổ phiếu để vốn hóa nợ trong tái cấu trúc tài chính công ty cổ phần ở Việt Nam

- Chỉ ra những mặt được và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong việc vốn hóa nợ trong tái cấu trúc tài chính công ty cổ phần ở Việt Nam.

- Đề xuất giải pháp nhằm phát huy được các điểm mạnh, hạn chế điểm yếu trong việc vốn hóa nợ trong tái cấu trúc tài chính công ty cổ phần ở Việt Nam.

6.3 Nội dung đề tài:

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về việc phát hành cổ phiếu để vốn hóa nợ trong tái cấu trúc tài chính công ty.

Chương 2: Thực trạng phát hành cổ phiếu để vốn hóa nợ trong tái cấu trúc tài chính công ty cổ phần tại Việt Nam.

Chương 3: Giải pháp quản lý vốn hóa nợ trong tái cấu trúc tài chính công ty ở Việt Nam.


II. CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. CHUYÊN ĐỀ CĐ.18.01 HOÀN THIỆN NỘI DUNG BÁO CÁO GIÁM SÁT VÀ PHÂN TÍCH GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

Chủ nhiệm chuyên đề:     CN Lê Nguyễn Trung Thanh

Đơn vị chủ trì:       Vụ Giám sát thị trường   

1.1 Tính cấp thiết của chuyên đề tài:

Báo cáo giám sát và phân tích giao dịch chứng khoán là công cụ thể hiện kết quả của chuỗi hoạt động giám sát trong hệ thống giám sát gồm SGDCK và UBCKNN, từ khi xác định các dấu hiệu cảnh báo đến khi phân tích và xử lý từng tình huống cụ thể. Do đó, báo cáo giám sát và phân tích giao dịch chứng khoán là một trong những nội dung rất quan trọng trong hệ thống giám sát giao dịch chứng khoán. Việc thực hiện báo cáo giám sát và phân tích giao dịch chứng khoán được thực hiện qua nhiều bước được quy định chặt chẽ tại quy trình thực hiện báo cáo phân tích của SGDCK và UBCKNN nhằm đảm bảo tính chính xác về dữ liệu giao dịch làm mẫu phân tích, tính khách quan và chính xác của các nhận định đối với kết quả phân tích tổng quan và chi tiết của người thực hiện công tác chuyên môn theo yêu cầu của từng hoạt động cụ thể.

Với những yêu cầu của giai đoạn phát triển hiện tại của TTCK, cần thiết phải nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện biểu mẫu báo cáo giám sát và phân tích giao dịch chứng khoán một cách khoa học và đồng bộ để thực hiện đồng bộ giữa Sở giao dịch và UBCKNN, tăng cường hiệu quả của hệ thống giám sát cũng như phục vụ tốt hoạt động chỉ đạo điều hành của lãnh đạo SGDCK và UBCKNN.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề:

- Hệ thống hóa toàn bộ các biểu mẫu báo cáo giám sát và phân tích giao dịch chứng khoán của SGDCK và UBCKNN, từ đó xác định các nội dung có yếu tố chung nhất cũng như các nội dung cần phải được sửa đổi, bổ sung cho đầy đủ và phù hợp với diễn biến của thị trường.

- Đánh giá thực trạng của các biểu mẫu báo cáo giám sát và phân tích giao dịch chứng khoán của SGDCK và UBCKNN, từ đó xác định những vấn đề cần phải được nghiên cứu xây dựng, những vấn đề cần được hoàn thiện để nâng cao hiệu quả của hệ thống giám sát trong giai đoạn mới của thị trường

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các biểu mẫu báo cáo giám sát và phân tích giao dịch chứng khoán của SGDCK và UBCKNN.

1.3 Nội dung của chuyên đề:

Chương 1: Thực trạng báo cáo giám sát và phân tích giao dịch chứng khoán

Chương 2: Yêu cầu đối với việc xây dựng báo cáo giám sát và phân tích giao dịch chứng khoán

Chương 3: Chi tiết toàn bộ hệ thống báo cáo giám sát và phân tích giao dịch chứng khoán

2. CHUYÊN ĐỀ CĐ.18.02 MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CÔNG TY CÓ BAN KIỂM TOÁN NỘI BỘ - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ VIỆC ÁP DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TẠI VIỆT NAM

Chủ nhiệm chuyên đề:   CN Cao Thanh Hải

Đơn vị chủ trì:     Vụ Quản lý chào bán  

2.1 Tính cấp thiết của chuyên đề:

Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về việc công ty cổ phần được phép lựa chọn một trong hai mô hình quản trị công ty: mô hình có ban kiểm soát và mô hình không có ban kiểm soát (có ban kiểm toán nội bộ trực thuộc hội đồng quản trị). Việc Luật Doanh nghiệp cho quy định về 02 mô hình quản trị công ty đã trao cho doanh nghiệp quyền chủ động lựa chọn xây dựng quản trị công ty theo mô hình phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp nhằm thúc đẩy chất lượng quản trị công ty và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo thông lệ quốc tế, mô hình quản trị công ty có ban kiểm toán nội bộ được các công ty cổ phần sử dụng để nâng cao khả năng giám sát của hội đồng quản trị đối với hoạt động điều hành doanh nghiệp. Chất lượng giám sát được nâng cao sẽ đảm bảo quyền lợi cổ đông doanh nghiệp, đồng thời tác động một cách hiệu quả đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên tại Việt Nam, trong một thời gian dài trước đây, các công ty cổ phần đã quen thuộc với mô hình tồn tại ban kiểm soát nên việc chuyển sang mô hình có ban kiểm toán nội bộ trực thuộc hội đồng quản trị vẫn chưa được nhiều doanh nghiệp triển khai sau khi Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực. Vì vậy, cần có nghiên cứu cụ thể đánh giá những ưu điểm và hạn chế của mô hình quản trị công ty có ban kiểm toán nội bộ khi áp dụng đối với công ty đại chúng Việt Nam để từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy việc áp dụng mô hình này trong thực tế.

2.2 Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề

- Đánh giá các ưu điểm, hạn chế của mô hình quản trị công ty có ban kiểm toán nội bộ.

- Phân tích các điều kiện tối thiểu để áp dụng mô hình này đối với công ty đại chúng tại Việt Nam.

- Đề xuất các giải pháp, định hướng để thúc đẩy việc áp dụng mô hình này đối với các doanh nghiệp có tiêu chí thực tiễn phù hợp để áp dụng.

2.3 Nội dung của chuyên đề:

Chương 1: Quản trị công ty và vai trò của các Hội đồng (Ban, tiểu ban) trong việc nâng cao chất lượng quản trị công ty

Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế về mô hình quản trị công ty của các công ty cổ phần

Chương 3: Mô hình quản trị công ty tại Việt Nam

3. CHUYÊN ĐỀ CĐ.18.03TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH (FINTECH) ĐỐI VỚI NGÀNH QUẢN LÝ QUỸ VIỆT NAM

Chủ nhiệm chuyên đề:     Ths. Đặng Tuấn Hưng

Đơn vị chủ trì:       Vụ Quản lý quỹ

3.1 Tính cấp thiết của chuyên đề:

Lĩnh vực tài chính đang có những thay đổi to lớn dưới sự tác động bởi sự phát triển và lan tỏa mạnh mẽ của những công nghệ mới. Sự kết hợp của tài chính “finance” và công nghệ “technology” được gọi là công nghệ tài chính “Fintech”, hàm ý việc các công ty và các ý tưởng sáng tạo kết hợp với công nghệ để cải tiến và đổi mới trong dịch vụ tài chính. Các công ty Fintech hình thành từ các công ty khởi nghiệp (start-up) hoặc từ các công ty được hình thành trên nên tảng kết hợp tài chính và công nghệ với mục tiêu ứng dụng sáng tạo các công nghệ mới trong hoạt động và cung dịch vụ tài chính. Trên phạm vi toàn cầu, công nghệ số cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ sáng tạo mới như trí tuệ thông minh nhân tạo (Artificial Intellegence); công nghệ chuỗi khối (blockchain), công nghệ phân tán sổ cái (distributed ledger technology); phân tích và xử lý dữ liệu lớn (big data) đã có sự ứng dụng và kết hợp chặt chẽ với lĩnh vực tài chính. Fintech phát triển tác động trên mọi lĩnh vực ngành tài chính như thanh toán, hạ tầng tài chính, tài trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, tài trợ cho đầu tư mạo hiểm, quản lý tài sản.

Lĩnh vực quản lý quỹ ở Việt Nam cũng chỉ mới hình thành và phát triển trong hơn 10 năm trở lại đây. Hiện nay, quá trình chào bán, phân phối, mua bán chứng chỉ quỹ thông qua vai trò đại lý phân phối, đại lý chuyển nhượng; quá trình quản trị quỹ, quản lý danh mục, tư vấn đầu tư chứng khoán đa phần được thực hiện thủ công và giản đơn thông qua vai trò của nhân viên nghiệp vụ (nhân viên tư vấn đầu tư, người điều hành quỹ).Vì vậy, việc nghiên cứu những tác động của Fintech đối với ngành quản lý quỹ trên thế giới và triển vọng áp dụng tại Việt Nam là cần thiết nhằm góp phần tạo tiền đề cho việc xây dựng khung pháp lý quản lý lĩnh vực quản lý quỹ tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ tài chính phát triển như hiện nay.

3.2 Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề:

- Làm rõ những nội dung Fintech đã, đang và sẽ tác động đến lĩnh vực quản lý quỹ;

- Đánh giá cơ hội và thách thức mà Fintech sẽ mang lại trong lĩnh vực quản lý quỹ đối với cơ quan quản lý, công ty quản lý quỹ, nhà đầu tư và các bên liên quan khác.

3.3 Nội dung của chuyên đề:

Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của Fintech

Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế ứng dụng Fintech trong lĩnh vực quản lý quỹ

Chương 3: Khả năng triển khai và gợi ý chính sách đối với Fintech trong ngành quỹ tại Việt Nam