Skip to content
ssc.gov.vn
Phản ứng với chính sách Covid-19
Đánh giá tác động của các gói cứu trợ doanh nghiệp trong đại dịch Covid-19 tới thị trường chứng khoán
260
15/06/2020

Tóm tắt

Đại dịch COVID-19 đã và đang có những tác động tiêu cực lên mọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội của hầu khắp các quốc gia. Dịch bệnh cũng ảnh hưởng nặng nề tới tâm lý của nhà đầu tư trên các thị trường chứng khoán (TTCK) thế giới. Xu thế giảm liên tục tại các TTCK được duy trì trong suốt thời gian từ đầu năm 2020 cho tới nay đã phản ánh phần nào nỗi lo ngại về cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế do dịch bệnh gây ra trong năm 2020. Nghiên cứu về các gói cứu trợ doanh nghiệp mà chính phủ các quốc gia công bố thời gian qua tới biến động của TTCK cho thấy tác động tích cực trong ngắn hạn của thông tin hỗ trợ lên tâm lý của nhà đầu tư. Tuy nhiên, phản ứng ngắn hạn cho thấy tác động của dịch bệnh là rất lớn và các gói hỗ trợ kinh tế có thể là chưa đủ để bù đắp cho những tổn thất mà doanh nghiệp cũng như nền kinh tế đang phải gánh chịu.    

Từ khóa: TTCK, COVID 19

1. Giới thiệu

Đại dịch COVID-19 hiện nay đang có những tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế toàn cầu. Bắt nguồn từ những ca nhiễm bệnh đầu tiên tại Vũ Hán - Trung Quốc hồi đầu tháng 12/2019, cho tới cuối tháng 4/2020, đại dịch COVID-19 đã lan ra hơn 210 quốc gia và vùng lãnh thổ với 3 triệu ca nhiễm và hơn 200.000 người tử vong1. Cho tới cuối tháng 4/2020, dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát tại một số khu vực như châu Âu nhưng vẫn diễn biến phức tạp tại Mỹ và một số nước khu vực châu Á.  Đại dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực tới mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội toàn cầu và Việt Nam. Các lĩnh vực trong nền kinh tế đều chịu ảnh hưởng, đặc biệt là hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), xuất nhập khẩu khi các quốc gia lần lượt phong tỏa đất nước để hạn chế dịch bệnh lây lan.

Với mục tiêu chính là hạn chế sự lây lan của dịch bệnh nhưng vẫn giữ ổn định nền kinh tế, chính phủ các nước đã ban hành nhiều gói cứu trợ chưa từng có tiền lệ trong lịch sử để hỗ trợ nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn. Tùy thuộc vào tình hình dịch bệnh tại mỗi quốc gia, các chính phủ lần lượt đưa ra các giải pháp kích thích kinh tế bên cạnh những biện pháp hỗ trợ tài chính để tăng cường chống dịch và giảm khó khăn cho những người yếu thế trong xã hội (Bảng 1). Trong thời gian từ tháng 2/2020 đến nay, nhiều quốc gia đã lần lượt thông qua các gói hỗ trợ, bao gồm gói hỗ trợ kinh tế, gói hỗ trợ doanh nghiệp nhằm khôi phục sản xuất và hỗ trợ trả lương cho người lao động không có việc làm, gói hỗ trợ cho người yếu thế trong xã hội thông qua trợ cấp hàng tháng… Đây được coi là những biện pháp kịp thời giúp nền kinh tế có thể chống đỡ trước những tác động của dại dịch COVID-19 trong thời gian này.

Trong những gói hỗ trợ kinh tế mà các nước đưa ra, đáng chú ý là những biện pháp giải cứu doanh nghiệp và người lao động mất việc làm. Dịch bệnh khiến nền kinh tế của nhiều quốc gia phải đóng cửa, doanh nghiệp phải dừng sản xuất do hoạt động xuất nhập khẩu bị đình trệ. Nếu như trong giai đoạn đầu khi dịch bệnh chỉ bùng phát tại Trung Quốc, những doanh nghiệp SXKD với Trung Quốc chịu tác động trực tiếp khi thiếu nguồn cung nguyên liệu, không xuất khẩu được hàng hóa,… thì tới giai đoạn sau khi dịch bệnh bùng phát trên diện rộng, hầu hết các nước phải đóng cửa biên giới để hạn chế dịch bệnh lây lan, hoạt động của tất cả các doanh nghiệp đều bị đình trệ. Tình trạng này dẫn tới những khó khăn như tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ phá sản,…

Trong suốt giai đoạn dịch bệnh bùng phát, diễn biến trên các TTCK đã phản ánh sự lo ngại về cuộc khủng hoảng kinh tế và suy thoái có thể kéo dài trong thời gian tới khi mà các doanh nghiệp lần lượt đóng cửa, các nền kinh tế tự cô lập, liên minh kinh tế bị phá vỡ. Sức khỏe của nền kinh tế nói chung và của chính các doanh nghiệp nói riêng được phản ánh vào kỳ vọng của nhà đầu tư trên TTCK. Thông tin về các gói cứu trợ kinh tế đặc biệt là các giải pháp cụ thể dành cho doanh nghiệp được nhà đầu tư kỳ vọng sẽ hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tránh được rủi ro phá sản do lệnh đóng cửa nền kinh tế kéo dài. Tuy nhiên, mức độ phản ứng của thị trường trước những thông tin này như thế nào, liệu có thực sự tác động tích cực tới kỳ vọng của nhà đầu tư về khả năng hồi phục trở lại của nền kinh tế, tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu biến động của các chỉ số chứng khoán chính tại thị trường các nước xung quanh thời điểm công bố thông qua các biện pháp kích thích kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp. Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự tích cực và lạc quan trong tâm lý của các nhà đầu tư là ngắn hạn, trong khi đó tác động thực sự của các gói cứu trợ cần có thời gian để kiểm tra do việc giải ngân cho doanh nghiệp chưa thể thực hiện ngay lập tức.

Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày tại phần 2, kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày trong phần 3 và kết luận trong phần 4 của bài viết.

2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Để đánh giá tác động của các gói cứu trợ doanh nghiệp tới TTCK trong ngắn hạn, tác giả xem xét phản ứng giá của chỉ số chứng khoán đại diện của TTCK (benchmark index) theo phương pháp nghiên cứu sự kiện (event study). Phương pháp nghiên cứu sự kiện phù hợp để đánh giá tác động ngắn hạn của các gói cứu trợ tới doanh nghiệp trong nền kinh tế thông qua sinh lời kỳ vọng của nhà đầu tư. Nghiên cứu tập trung vào các gói cứu trợ của chính phủ dành cho doanh nghiệp và các gói kích thích kinh tế thông qua các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, không bao gồm các gói cứu trợ cho người yếu thế hoặc tập trung cho trang thiết bị y tế phục vụ chống dịch bệnh. Mặc dù hầu hết các quốc gia đều đưa ra gói cứu trợ cho nền kinh tế để hỗ trợ khắc phục hậu quả do đại dịch COVID 19 gây ra, tác giả lựa chọn một số quốc gia có TTCK phát triển trong khu vực và trên thế giới, chỉ số TTCK có mức độ ảnh hưởng tới các thị trường khu vực nói chung. Trong đó, TTCK Việt Nam được tác giả đưa vào nhằm đánh giá tác động của thông tin về gói hỗ trợ tín dụng 250.000 tỷ đồng của Chính phủ lên TTCK trong nước.

Trong số các gói hỗ trợ được Chính phủ các nước công bố trong giai đoạn vừa qua, tác giả đã lựa chọn ra một số gói cứu trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp, thông tin được thể hiện trong Bảng 2.

Do sự kiện về công bố các gói cứu trợ có xu hướng tác động ngắn hạn quanh thời điểm công bố thông tin (CBTT) chấp thuận hoặc thông qua, tác động dài hạn của các gói cứu trợ này thường được đánh giá trong vài năm sau khủng hoảng. Bởi vậy, theo nghiên cứu của Mackinlay (1997), tác giả sẽ sử dụng khung sự kiện ngắn bao gồm 2 ngày, 5 ngày và 7 ngày quanh ngày công bố sự kiện.

Phương pháp nghiên cứu sự kiện sẽ xem xét lợi nhuận bất thường (AR) của chỉ số chứng khoán tại những ngày xoay quanh sự kiện. AR là chênh lệch giữa tỷ suất sinh lời thực tế của chỉ số với tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chỉ số trong khoảng thời gian nghiên cứu sự kiện. Với chỉ số i và sự kiện t, lợi nhuận bất thường được xác định theo công thức:

Trong đó, tỷ suất lợi nhuận thực tế của chỉ số Rit được xác định theo công thức tỷ suất lợi giản đơn với Pit là chỉ số chứng khoán của thị trường i tại thời điểm t.

Đối với lợi nhuận kỳ vọng E(Rit), tác giả sử dụng phương pháp giá trị trung bình cố định. Theo đó, giá trị trung bình cố định được xác định là giá trị trung bình của chỉ số trong thời gian 120 ngày tính từ thời điểm ngày 30/11/2019 trở về trước. Khoảng thời gian này độc lập hoàn toàn với thời điểm công bố ca bệnh đầu tiên tại Trung Quốc (nửa cuối tháng 12/2019) nên sẽ cho mức sinh lời trung bình không chịu ảnh hưởng bởi thông tin về dịch bệnh. Phương pháp giá trị trung bình cố định đã được Brown và Warner (1985) chứng minh có hiệu quả trong nghiên cứu tương đương với các phương pháp phức tạp khác.

Giá trị ARi của mỗi chỉ số chứng khoán sẽ được sử dụng để tính lợi nhuận bất thường bình quân AARi, chỉ tiêu lợi nhuận bất thường bình quân được sử dụng để tính lợi nhuận bất thường bình quân tích lũy (CAAR) theo công thức:

Trong đó, t1 và t2 là giai đoạn lũy kế. Trong nghiên cứu, tác giả tính toán CAAR 4 ngày, CAAR 10 ngày và CAAR 14 ngày.

Giá trị CAAR cho phép xem xét toàn bộ các TTCK nói chung trên thế giới sẽ phản ứng như thế nào trước thông tin các gói cứu trợ mà chính phủ đưa ra.

Cuối cùng, tác giả thực hiện kiểm định CAAR nhằm xác định ý nghĩa về mặt thống kê của các giá trị này. Kiểm định t-test được thực hiện theo công thức sau:

Giả thiết H0 là giá trị của CAAR không có ý nghĩa thống kê. H1 tương ứng sẽ là thị trường có phản ứng trước các thông tin thông qua các gói cứu trợ doanh nghiệp của chính phủ các nước. 

3. Kết quả nghiên cứu

Bảng 3 cho thấy kết quả kiểm định lợi nhuận tích lũy bất thường xung quanh ngày sự kiện công bố thông qua các gói cứu trợ của chính phủ cho doanh nghiệp. Khoảng thời gian nghiên cứu là 2 ngày, 5 ngày và 10 ngày xung quanh sự kiện tương ứng với CAAR[-2, 2], CAAR[-5, 5] và CAAR[-10,10]. Trong nghiên cứu này, do kiểm định phản ứng của TTCK thông qua chỉ số chứng khoán chính, phương pháp để ước tính lợi nhuận bất thường trung bình AAR được lựa chọn theo phương pháp giá trị trung bình cố định. Đồng thời với các AAR, tác giả kiểm định lợi nhuận bất thường trung bình tích lũy (CAAR). Để thấy rõ hơn tác động của thông tin tới biến động của TTCK, tác giả sử dụng kết quả kiểm định CAAR và đồ thị minh họa biến động CAAR xoay quanh ngày CBTT.

Sự kiện thông qua các gói cứu trợ kinh tế chưa từng có trong lịch sử của các quốc gia được coi là liều thuốc kích thích nền kinh tế các nước trong giai đoạn khó khăn do Đại dịch COVID-19 gây ra. Đặc biệt, các gói hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp sẽ giúp tháo gỡ những khó khăn tại thời điểm hiện tại. Việc đóng cửa nhà máy và cơ sở kinh doanh do lệnh giãn cách xã hội, cầu về hàng hóa giảm do các quốc gia thực hiện đóng cửa nền kinh tế dẫn tới nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng dư cung, không bán được hàng khiến nền kinh tế rơi vào trạng thái trì trệ, doanh nghiệp đóng cửa và phá sản khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Kỳ vọng vào sự tăng trưởng trong nửa cuối năm 2020 gần như sẽ không còn do lo ngại về tình hình dịch bệnh kéo dài.

Bảng 3 cho thấy thị trường đã có phản ứng tích cực với thông báo về các gói cứu trợ dành cho doanh nghiệp tại thời điểm CBTT, trước thời điểm CBTT và cả sau thời điểm này. Lợi nhuận bình quân bất thường tích lũy tồn tại trước thời điểm công bố từ 1 cho tới 5 ngày cho thấy việc phản ứng đã có từ thời điểm thông tin về các gói cứu trợ của Chính phủ được đưa ra bàn thảo trước khi có quyết định chính thức. Tuy nhiên, nếu quan sát biến động của CAAR cho thấy mối lo ngại về dịch bệnh bao trùm tâm lý nhà đầu tư khiến lợi nhuận bất thường tích lũy liên tục giảm mạnh trong thời điểm trước khi chính phủ các quốc gia thông qua gói cứu trợ. Thông tin về gói cứu trợ ngay cả khi được công bố tại ngày 0 cũng chỉ có tác động làm giảm bớt đà giảm của thị trường. CAAR có xu hướng tăng vào ngày thứ 3 sau khi thông tin được công bố cho thấy tâm lý của nhà đầu tư đã bắt đầu ổn định và có khởi sắc sau khi các kế hoạch chi tiết về gói cứu trợ được đưa ra sau đó. Phản ứng này cho thấy tâm lý thận trọng của nhà đầu tư cũng như sự bi quan vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ngay cả khi có những gói hỗ trợ từ phía chính phủ trong thời gian tới.

Từ Hình 1 có thể thấy, phản ứng tích cực với thông tin được duy trì cho tới ngày thứ 6 và có xu hướng đi ngang sau đó, giá trị CAAR luôn âm trong giai đoạn này cho thấy TTCK đã phản ứng rất mạnh trước đợt đại dịch này, đặc biệt tại một số thị trường lớn với số ca nhiễm liên tục đạt đỉnh trong nhiều ngày liên tiếp. Phản ứng đi ngang từ ngày thứ 6 có thể giải thích bởi thông tin gói cứu trợ chỉ là thông tin được phản ứng trong ngắn hạn. Việc triển khai một gói hỗ trợ doanh nghiệp cần có thời gian, điều này khiến tâm lý kỳ vọng của nhà đầu tư vào sự lạc quan của nền kinh tế cũng chỉ là nhất thời. Sự ảnh hưởng quá lớn của dịch bệnh khiến cho những gói hỗ trợ kinh tế là chưa thể bù đắp những tổn thất mà doanh nghiệp đang phải đối mặt. Bằng chứng cho thấy nhiều quốc gia cung cấp các gói cứu trợ liên tục trong vòng vài tháng với số tiền ngày càng nhiều để khắc phục hậu quả của dịch bệnh gây ra cho nền kinh tế.

Tại Việt Nam, để khắc phục những thiệt hại mà dịch bệnh đã và đang gây ra cho nền kinh tế, Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị 11/CT-TTg ngày 4/3/2020 về các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho SXKD, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID-19, trong đó có thông qua gói tín dụng hỗ trợ cho doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi đại dịch với giá trị 250.000 tỷ đồng. Các biện pháp được đưa ra bao gồm hỗ trợ cho doanh nghiệp vay vốn để khôi phục lại hoạt động SXKD. Gói hỗ trợ sẽ được Chính phủ chỉ đạo cho Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng cân đối nguồn vốn để hỗ trợ cho vay với mức lãi suất ưu đãi giảm từ 0,5% đến 1,5%/năm.

Hình 2 cho thấy kết quả kiểm định lợi nhuận tích lũy bất thường xung quanh ngày 6/3/2020 (ngày Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11). Đây là gói hỗ trợ đầu tiên dành cho doanh nghiệp kể từ thời điểm Việt Nam công bố dịch COVID-19 trên toàn quốc. Tại thời điểm này, số ca nhiễm COVID-19 tại Việt Nam là 16 ca và đã chữa khỏi 16 ca nhiễm, cơ bản tình hình về dịch bệnh đã được kiểm soát, gói tín dụng chủ yếu hướng tới các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trong hoạt động du lịch, xuất khẩu hoặc có sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc. Gói hỗ trợ có thể được coi là phù hợp và là biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp khôi phục sản xuất kịp thời. Tuy nhiên, đến ngày 7/3 là ngày Việt Nam ghi nhận ca nhiễm mới sau hơn 20 ngày không có ca mắc COVID-19, chỉ trong hai ngày 7/3 và 8/3 số ca nhiễm tăng nhanh chóng khiến cho thị trường mở cửa ngày 9/3 (ngày thứ 2 của sự kiện) điều chỉnh giảm mạnh và chuỗi giảm kéo dài sau đó tỷ lệ nghịch với số ca nhiễm tại Việt Nam. Thông tin về gói cứu trợ đã không còn được phản ánh do sự lo ngại và tâm lý bi quan của người dân cũng như nhà đầu tư. Bởi vậy, mặc dù kết quả kiểm định có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên TTCK tại thời điểm này đã phản ứng mạnh hơn với thông tin về ca nhiễm mới tại Việt Nam. 

4. Kết luận

Trong hơn 4 tháng kể từ ngày dịch bệnh COVID-19 được biết tới, số lượng người nhiễm bệnh tăng nhanh và lan rộng khắp các Châu lục, số người tử vong cũng tăng cao khiến tình trạng y tế của nhiều quốc gia rơi vào khủng hoảng. Không những vậy, đại dịch COVID-19 đang tạo ra những thách thức lớn cho nền kinh tế toàn cầu, trong đó tác động tiêu cực từ các biện pháp ngăn chặn dịch khiến cho chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, quan hệ cung cầu thay đổi dẫn đến những đình trệ trong sản xuất, thất nghiệp gia tăng kéo theo nguy cơ vỡ nợ, doanh nghiệp phá sản và khủng hoảng trong tâm lý của các nhà đầu tư tài chính. Sự sụt giảm của hầu hết các TTCK trong thời gian qua đã cho thấy tâm lý hoảng sợ của nhà đầu tư trước những diễn biến của dịch bệnh.

Các gói hỗ trợ kinh tế được đưa ra nhằm giảm nhẹ tác động tiêu cực lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Cùng với nhiều biện pháp giãn cách xã hội, cách ly và phong tỏa toàn quốc, Chính phủ các quốc gia đã triển khai các gói cứu trợ để hỗ trợ người dân trong giai đoạn khó khăn. Trong số những biện pháp được đưa ra nhằm hỗ trợ nền kinh tế, nhưng gói hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp được đặc biệt quan tâm. Đây có thể được xem là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong đại dịch này. Đóng cửa hoạt động vì các biện pháp giãn cách xã hội có thể dẫn tới phá sản khi hoạt động bị đình trệ trong thời gian dài là những vấn đề mà doanh nghiệp tại hầu hết các quốc gia đang phải đối mặt. Bởi vậy, nền kinh tế nói chung cũng như doanh nghiệp nói riêng rất cần các biện pháp hỗ trợ từ chính phủ để có thể khôi phục SXKD sau khủng hoảng.

Nghiên cứu phản ứng của TTCK với thông tin phê duyệt các gói hỗ trợ doanh nghiệp từ chính phủ các quốc gia cho thấy kết quả tích cực và có ý nghĩa thống kê sau thời điểm CBTT. Thông tin về số ca nhiễm và tử vong liên tục tăng nhanh trong thời gian dài đã khiến các chỉ số chứng khoán giảm mạnh. Ngay tại ngày CBTT về các biện pháp kích thích kinh tế, đà giảm của các thị trường có xu hướng chậm lại. Tuy vậy, do những lo ngại về tình hình khó khăn mà các doanh nghiệp đang phải trải qua, lợi nhuận bình quân bất thường tích lũy tăng trở lại vào ngày thứ 3 sau khi thông tin hỗ trợ được thông qua. Tuy vậy, phản ứng tích cực cũng chỉ duy trì trong ngắn hạn khi mà những lo ngại về sự suy thoái kinh tế có thể xảy ra trong thời gian tới. Đối với một số quốc gia, các gói kích thích kinh tế mặc dù được đưa ra trong bối cảnh doanh nghiệp đang gặp khó khăn song được đánh giá là chưa đủ để làm nhẹ tác động của đại dịch lên nền kinh tế. Thực tế cho thấy nhiều quốc gia đã phải liên tiếp ban hành các gói cứu trợ cho doanh nghiệp, điều này cho thấy sự khó kiểm soát và những tác động không lường trước được của đại dịch COVID-19 đã khiến nhiều chính phủ bị động trong việc ứng phó.

Từ kết quả nghiên cứu có thể thấy, đại dịch COVID-19 đã và đang tác động tiêu cực tới hoạt động của các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế tại nhiều quốc gia trên thế giới. Sự hồi phục trong ngắn hạn của thị trường phần nào phản ánh tâm lý lạc quan của nhà đầu tư trước những biện pháp kích thích kinh tế. Tuy nhiên, cũng như nhận định của nhiều tổ chức tài chính trên toàn cầu, dịch bệnh sẽ còn để lại hậu quả lâu dài, phản ứng trong ngắn hạn cho thấy nhà đầu tư nên thận trọng với những chiến lược đầu tư ngắn hạn trong giai đoạn hiện nay của thị trường. Thêm vào đó, cần có sự đánh giá chính xác về giá trị nội tại của các doanh nghiệp thời kỳ hậu khủng hoảng để lựa chọn vùng giá giao dịch hợp lý. Ảnh hưởng của dịch bệnh có thể để lại kết quả không mong đợi cho các doanh nghiệp trong khoảng thời gian từ 01 cho tới vài năm sau đó, giá trị doanh nghiệp giảm dẫn tới kỳ vọng về giá cổ phiếu sẽ có những điều chỉnh trong thời gian tới, ngay cả khi dịch bệnh đã được kiểm soát, các nền kinh tế mở cửa trở lại.

Các bài viết khác: