Skip to content
ssc.gov.vn
Phản ứng với chính sách Covid-19
Thị trường tài chính Việt Nam Thời Covid-19- Thực tiễn và đề xuất hướng phát triển đến hết 2020 và các năm tiếp theo
260
15/06/2020

Thị trường tài chính (TTTC) là nơi hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) và nhiều loại định chế tài chính (ĐCTC) phi ngân hàng chuyên kinh doanh các sản phẩm dịch vụ tài chính phi tín dụng trên TTTC. Bản thân các NHTM cũng phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ tài chính phi tín dụng. Các NHTM lớn luôn có xu hướng phát triển theo mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng: Có ngân hàng mẹ, ngân hàng con chuyên doanh và các ĐCTC con độc lập như: ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng bán lẻ, các ĐCTC phi ngân hàng, như: công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán...

TTTC Việt Nam trong quá trình chống chọi với đại dịch COVID-19

Năm 2019 là năm thứ hai liên tiếp tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vượt con số 7%/năm kể từ năm 2011. Để có nguồn vốn tạo ra kết quả đó, TTTC đã huy động vốn từ nhiều kênh khác nhau, trong đó vốn từ khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư xã hội. Điều đó càng khẳng định rõ tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân và chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân ngày càng phải trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân là rất đúng đắn. Năm 2019 cũng là năm Việt Nam tạo thế mạnh về xuất nhập khẩu, đạt tổng kim ngạch hơn 500 tỷ USD, cao nhất từ trước tới năm 2019. Trong đó xuất siêu 9,9 tỷ USD, cũng là mức cao nhất trong 4 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016. Năm 2020 với nhiều tiềm lực và quyết tâm lớn của năm bản lề chuyển sang giai đoạn phát triển 5 năm tiếp theo và chào mừng Đại hội Đảng lần thứ 13 vào năm 2021, nhưng mới bước vào năm mới 2020 được nửa tháng thì dịch COVID-19 ập đến. Dịch COVID-19 bắt nguồn từ Vũ Hán (Trung Quốc) với quy mô, tốc độ và đặc biệt là mức độ tàn phá về sinh mạng con người và của cải liên tục gia tăng ở mức rất lớn, nhanh chóng nhảy lên cấp đại dịch trên phạm vi toàn cầu. Đại dịch này đã và đang ảnh hưởng rất sâu rộng trên phạm vi hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ, nhưng mức độ nghiêm trọng và thời gian diễn ra ở từng quốc gia không giống nhau. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB): “Tăng trưởng bình quân ở các quốc gia đang phát triển vùng Đông Á và Thái Bình Dương được dự báo theo kịch bản cơ sở sẽ chỉ còn 2,1% và theo kịch bản tình huống thấp sẽ giảm tới mức âm 0,5% cho năm 2020, so với mức đã dự báo 5,8% vào năm 2019. Tăng trưởng của Trung Quốc được dự báo theo kịch bản cơ sở sẽ giảm còn 2,3% và theo kịch bản tình huống thấp còn 0,1% vào năm 2020, so với 6,1% đã đạt vào năm 2019”1. Thiệt hại về sinh mạng con người còn nghiêm trọng hơn nhiều. Tính đến sáng ngày 26/5/2020, trên thế giới đã hơn 5,5 triệu người nhiễm COVID-19, trong đó có gần 350 nghìn người tử vong2. Riêng nước Mỹ, số người nhiễm đã vượt con số 1,68 triệu, trong đó số người tử vong đã lên tới 99.300 người, nhiều gấp gần 30 lần số người chết trong sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001.

Tại Việt Nam, cả nền kinh tế nói chung và TTTC nói riêng cũng đã và đang phải gồng mình chống chọi một cách nghiệt ngã bằng đồng thời nhiều giải pháp: cắt bỏ, né tránh, nén lại, chuyển đổi, tạm dừng và gồm cả những giải pháp tạo ra cơ hội mới, tiềm lực mới để thích ứng hóa, để bật dậy, để phân luồng đầu tư trong và sau giai đoạn chống đại dịch này. Việt Nam đã chủ động thực hiện ngay từ đầu một chiến dịch khoanh vùng, cách ly và huy động đồng thời cả 3 nguồn lực: Nhà nước, Doanh nghiệp và Công dân để chung tay ứng phó với những thiệt hại do đại dịch đã và đang hoành hành. Riêng về các ứng phó của ngành Ngân hàng, ngày 12/3, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã kịp thời ký ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN quy định về tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, có hiệu lực ngay từ ngày 13/33. Theo số liệu của NHNN cho thấy, đến đầu tháng 5/2020, số dư nợ hiện hữu được các NHTM xét miễn giảm lãi đã lên tới 1 triệu tỷ đồng. Hầu hết các NHTM nội địa, liên doanh và chi nhánh NHTM nước ngoài tại Việt Nam đã liên tục điều chỉnh giảm lãi suất giúp bên vay khắc phục tác động tiêu cực của dịch COVID-19. Riêng lợi nhuận cả năm 2020 của 4 NHTM nhà nước là BIDV, Vietcombank, VietinBank, Agribank đã có phương án giảm ít nhất 40% khi các ngân hàng này cam kết giảm sâu lãi suất cho vay tới 2,5%/năm hoặc cao hơn để hỗ trợ doanh nghiệp. Việc giảm lãi suất của các ngân hàng sẽ tốt cho cả hai bên cho vay và đi vay. Dù có ảnh hưởng lớn tới kết quả kinh doanh nhưng đây là xu hướng chung trong thời COVID-19 nên các ngân hàng đều hưởng ứng. Vấn đề là nếu khách hàng không đủ sức thanh toán thì ngân hàng không chỉ bị gia tăng nợ quá hạn cũ mà còn không có khách hàng đủ sức để vay mới.

Trong quá trình chống chọi với đại dịch COVID-19, trên TTTC Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đã xuất hiện cụm từ “thời đại COVID-19” gắn với cụm từ “từ xa” - giao tiếp, trao đổi, mua, bán từ xa, thanh toán không dùng tiền mặt từ xa, thẩm định an toàn tín dụng từ xa, thậm chí hội họp, học tập, ngoại giao...”từ xa”… là những hoạt động được sáng lên nhờ khắc phục khó khăn chung do ảnh hưởng của COVID-19. Chính những hoạt động “từ xa” này đã có lợi cho cả nền kinh tế nói chung và tạo một cơ chế làm việc nhanh, gọn, hiện đại gắn với thời đại công nghệ số cho TTTC Việt Nam nói riêng và nền kinh tế số nói chung. Nhiều hoạt động “từ xa” trên TTTC do đó chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển tích cực và hoàn thiện nhanh chóng sau “thời đại COVID-19” này.

Thực tế đã và đang chứng minh rất rõ quá trình gián tiếp hóa các hoạt động dịch vụ trên TTTC nước ta. Ví dụ: Để kịp thời khắc phục dịch COVID-19 nhưng vẫn phục vụ tốt cho mọi nhu cầu mua sắm an toàn của người dân, Ngân hàng BIDV là ngân hàng đầu tiên đã tích hợp siêu thị VinMart Online ngay trên ứng dụng BIDV SmartBanking. BIDV cũng đã kịp thời triển khai các gói tín dụng mới nhằm hỗ trợ nhóm khách hàng bị ảnh hưởng bởi COVID-19 với lãi suất giảm 2% so với lãi suất cho vay cùng loại tại ngày 31/12/2019.

Vietcombank là ngân hàng đầu tiên thực hiện kết nối trực tiếp với Cổng dịch vụ công Quốc gia (DVCQG) để cung cấp các giải pháp thanh toán trực tuyến cho các dịch vụ mới bổ sung. Đặc biệt, Vietcombank hợp tác với Cổng DVCQG trong việc phát triển cơ chế đăng nhập một lần “Single Sign On” (SSO) giữa Cổng DVCQG với dịch vụ Internet Banking của Ngân hàng nhằm giúp cho người dân có trải nghiệm hoàn toàn mới và thuận tiện khi truy cập vào Cổng DVCQG sử dụng các dịch vụ công mức độ 4 để hoàn tất thanh toán trực tuyến qua ngân hàng. Ngoài các hoạt động, giải pháp ứng phó với đại dịch của khối NHTM như giảm lãi suất, đổi mới phương thức thanh toán, phương thức tiếp cận với khách hàng…

Về đầu tư nước ngoài, nhiều quốc gia đã chuyển mạnh hướng đầu tư FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) và chứng khoán vào Việt Nam. Số liệu ghi nhận trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2020 đã đạt 12,33 tỷ USD, tương đương 84,5% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó có 984 dự án mới đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn 6,78 tỷ USD, tăng 27% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2019.

Về thị trường chứng khoán (TTCK), TTCK Việt Nam đang hồi phục tích cực từ đầu tháng 4 đến nay, chỉ số VN Index đã tăng từ 662,5 điểm cuối tháng 3 lên 869,13 điểm ngày 26/5. Trước đó, chỉ số này đã sụt giảm từ trên ngưỡng 990 điểm tại thời điểm ngày 22/1/2020, chủ yếu vì tác động làm suy giảm kinh tế do đại dịch COVID-19. Việt Nam và các nước đang có nhiều gói hỗ trợ nền kinh tế từ Chính phủ để khắc phục đại dịch; Đại dịch COVID-19 sau tuần đầu tháng 5/2020 đã có dấu hiệu tạo đỉnh tại châu Âu và tại Việt Nam, dịch COVID-19 được kiểm soát rất tốt sau hơn 1 tháng không phát sinh ca nhiễm mới trong khi chưa có ca nào tử vong. Vì vậy có thể dự báo nhiều cổ phiếu chủ chốt trên TTCK có vai trò kích thích hoạt động ở nước ta đã và đang bắt đáy để đi lên sau khi đã giảm giá sâu trước đó.

Thị trường bảo hiểm (TTBH) nói chung và nhất là bảo hiểm nhân thọ do dịch COVID-19 tác động đã làm cho nhu cầu khách hàng tìm tới bảo hiểm tăng đột biến. Vì ngoài các gói bảo hiểm tự phòng vệ cho bản thân thì nhu cầu lựa chọn gói bảo hiểm để bảo vệ sức khỏe cho gia đình cũng có xu hướng tăng cao. Đây cũng là một nguồn lực vốn quan trọng bổ sung vào TTTC mang tính bền vững, lâu dài. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong quý I/2020, từ ảnh hưởng của COVID-19, ngành Bảo hiểm tiếp tục tăng trưởng với doanh thu phí tăng tới 26%. Trong đó bảo hiểm nhân thọ tăng 21%, bảo hiểm phi nhân thọ tăng 8%. Năm 2020, TTBH Việt Nam đã đặt mục tiêu doanh thu phí tăng 18%, đạt 188.730 tỷ đồng và tổng tài sản tăng 13% lên 514.795 tỷ đồng4.

Theo thông cáo báo chí của Chính phủ phát hành ngày 27/3/2020 cho biết: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện trong quý I/2020 theo giá hiện hành ước tính đạt 367,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 31% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 112,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,5% tổng vốn và tăng 5,8%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 166,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 45,2% và tăng 4,2%; khu vực FDI đạt 89,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,3% và giảm 5,4%. Như vậy, vốn từ khu vực tư nhân trong nước vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong TTTC. Đây là tín hiệu rất tốt để Chính phủ có định hướng chính sách thu hút, phát huy mạnh hơn nữa tiềm năng của khu vực tài chính này trong quá trình chống dịch và trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lâu dài của đất nước.

 

Đề xuất các giải pháp phát triển TTTC trong và sau đại dịch COVID-19 năm 2020 và các năm tiếp theo

Để TTTC Việt Nam sớm vượt qua những khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và tiếp tục phát triển trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Một là, cần mở rộng quy mô và tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Giải pháp này không chỉ thích hợp với thời COVID-19 mà còn rất phù hợp cho xu hướng hiện đại hóa công nghệ thanh toán trong nền kinh tế thị trường và thúc đẩy phát triển nền kinh tế số. Theo đó, Việt Nam có thể xem xét việc sớm cho ra đời loại tiền điện tử duy nhất do NHNN phát hành và làm chủ ví tiền điện tử quốc gia. Đây là giải pháp “duy nhất hóa” đồng tiền số của khách hàng là cá nhân và tổ chức giao dịch trên thị trường Việt Nam trong hệ thống thanh toán quốc gia.

Hai là, trong bối cảnh chống đại dịch COVID-19 và những năm tiếp theo, Việt Nam cần sớm cho phép thành lập một Trung tâm Thông tin Tiền gửi Quốc gia đặt tại NHNN (Thanh tra NHNN) làm chức năng được phép nhận, cập nhật và cung cấp thông tin tiền gửi của pháp nhân và cá nhân cho cơ quan thi hành án và người không phải là chủ tài khoản nhưng đủ thẩm quyền hợp pháp được phép tiếp quản tài sản trong tài khoản tiền gửi của khách hàng trong điều kiện đặc biệt (chẳng hạn như chủ tài khoản đột ngột qua đời, mất tích, mất trí nhớ, bị tù giam, phá sản...) do pháp luật quy định. 

Ba là, cần điều chỉnh lại tỷ trọng nguồn vốn tham gia đầu tư phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng tỷ trọng vốn trung, dài hạn được cung cấp bởi TTCK và giảm tỷ trọng vốn tín dụng tham gia thị trường đầu tư trung và dài hạn trong nền kinh tế, theo đó nên chủ động điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế xuống mức xung quanh 10%/năm.

Bốn là, TTTC Việt Nam cần chuyển hướng ưu tiên đầu tư vào các doanh nghiệp thuộc các ngành ít bị tác động của dịch COVID-19 như các ngành công nghệ thông tin, nghiên cứu vacxin, phương tiện chống dịch, công nghiệp chế tạo, công nghiệp thực phẩm tiêu dùng thiết yếu, sản xuất phân bón, sản xuất nông nghiệp, thủy hải sản, các nhóm ngành xuất khẩu mà Việt Nam tự chủ được nguồn cung nguyên liệu và được kỳ vọng sẽ phục hồi nhanh khi dịch COVID-19 qua đi. Đặc biệt, cần ưu tiên đầu tư vốn trung, dài hạn và cả tín dụng ngắn hạn cho những doanh nghiệp có các phương án khả thi để giữ người lao động không bị thất nghiệp do đại dịch tác động.

Năm là, Nhà nước cần có chính sách khai thác tốt hơn nữa vai trò về tiềm lực vốn của khu vực tư nhân trong nền kinh tế thị trường thông qua các cơ chế thu hút vốn hấp dẫn qua TTCK, qua TTBH để tạo nguồn đầu tư trung và dài hạn chiếm tỷ trọng cao hơn hiện nay trong cơ cấu tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Mặc dù có sự đình trệ sản xuất, tiêu thụ đang diễn ra ở nhiều ngành nghề thuộc các lĩnh vực giải trí, văn hóa, du lịch, giao thông, thể thao... là đương nhiên do tác động của đại dịch COVID-19, nhưng trong khó khăn bao giờ cũng hàm chứa cả những thuận lợi cho qua trình sàng lọc cái lạc hậu, cái cứng nhắc để tiệm cận tới các giải pháp chính sách và công nghệ năng động hơn. Có thể coi đại dịch này như là một tai nạn, dù là tai nạn rất lớn cũng chỉ mang tính gián đoạn, tạm thời. Ðà phục hồi cho nền kinh tế nói chung và TTTC Việt Nam nói riêng chắc chắn sẽ bật trở lại nhanh hơn trong nửa cuối năm nay và các năm tiếp sau nếu chúng ta có chiến lược và chính sách nắm bắt cơ hội, tạo cơ chế vận hành, phân luồng, phân nhóm, ứng dụng công nghệ sản xuất thích hợp cho từng loại ngành nghề tương ứng cùng với cơ chế đáp ứng đủ vốn rẻ, thuận lợi để phát triển trong và sau quá trình ứng phó với đại dịch COVID-19 này.

 

Các bài viết khác: