Skip to content
ssc.gov.vn
Phản ứng với chính sách Covid-19
Gợi ý chính sách từ phản ứng của một số nước trên thế giới với dịch Covid-19
260
15/06/2020

Đại dịch COVID-19 đã phủ bóng đen lên kinh tế toàn cầu, với tác động tiêu cực còn lớn hơn so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cách đây một thập kỷ, thậm chí đây được xem là cuộc khủng hoảng lớn nhất sau 90 năm qua kể từ cuộc đại suy thoái kinh tế năm 1929 - 1933. Tăng trưởng kinh tế thế giới được dự báo ở mức -3%, trong khi tình trạng thất nghiệp, phá sản của doanh nghiệp đang có xu hướng tăng mạnh trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế. Trước bối cảnh đó, các quốc gia trên thế giới đã có những bước đi khẩn cấp và cụ thể nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế để có sức chống chịu với đại dịch nguy hiểm này.

COVID-19 cú sốc kinh tế chưa có tiền lệ

Khởi phát tại Trung Quốc vào thời điểm cuối năm 2019 và nhanh chóng trở thành đại dịch toàn cầu, COVID-19 đã làm ngưng trệ hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư ở hầu hết các nền kinh tế thế giới. Phạm vi và mức độ ảnh hưởng của đại dịch này được đánh giá lớn hơn nhiều so với tác động của khủng hoảng tài chính thế giới vào năm 2008 - 2009, thậm chí Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) còn so sánh với tác động của cuộc đại suy thoái kinh tế trong giai đoạn 1929 - 1933.

Nhìn vào Bảng 1 có thể thấy, COVID-19 không chỉ làm giảm tăng trưởng ở tất cả các khu vực, quốc gia mà độ ảnh hưởng cũng rất lớn. Kinh tế thế giới ở mức tăng trưởng 2,9% trong năm 2019, đã sụt giảm tới 5,9 điểm phần trăm xuống mức âm 3%. Trong khi các nền kinh tế hàng đầu như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc ghi nhận mức độ sụt giảm nghiêm trọng. Mỹ giảm 8,2 điểm phần trăm, EU giảm 8,7 điểm phần trăm, Nhật Bản giảm 6,1 điểm phần trăm, Trung Quốc giảm 4,9 điểm phần trăm... Trong khi đó, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển vốn là điểm đỡ cho khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 - 2009 cũng không duy trì được đà tăng trưởng, thậm chí còn ghi nhận mức giảm 4,7 điểm phần trăm.

Theo TS. Lê Thị Thùy Vân, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, Bộ Tài chính, có 5 lý do khiến tác động của đại dịch COVID-19 đối với kinh tế thế giới nghiêm trọng hơn so với cuộc khủng hoảng tài chính một thập kỷ trước.

Thứ nhất, đây là giai đoạn kinh tế toàn cầu dễ bị tổn thương nhất khi tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 2,9%-mức thấp nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 - 2009. Bên cạnh đó, thương mại toàn cầu đã suy giảm trong năm 2019 với mức giảm 0,3% bởi sức ép chính sách áp thuế bổ sung cùng những biện pháp trả đũa, tăng trưởng kinh tế yếu kém, thị trường tài chính dễ biến động và chính sách thắt chặt tiền tệ tại những nước phát triển3.

Thứ hai, không gian tài khóa đã bị thu hẹp đáng kể do nợ công ở mức cao. Thời điểm cuối năm 2019, nợ công trên toàn cầu đã tăng lên mức kỷ lục 188 nghìn tỷ USD, tương đương 230% GDP toàn cầu. Tình hình nợ công tại các nền kinh tế phát triển đang ở mức không thể xác định kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, trong khi đó, nợ công tại các nền kinh tế mới nổi ở mức tương đương mức ghi nhận thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng nợ công trong những năm 19804.

Thứ ba, chính sách tiền tệ khó phát huy hiệu quả khi mức lãi suất đã được duy trì ở mức thấp trong nhiều năm qua. Tính riêng trong năm 2019, làn sóng nới lỏng tiền tệ lan rộng với tổng cộng gần 140 đợt giảm lãi suất của các ngân hàng trung ương (NHTW), trong đó có một số NHTW tiến hành 3 - 4 đợt cắt giảm lãi suất. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã tiến hành cắt giảm lãi suất 3 lần vào tháng 7, tháng 9 và tháng 10/2019 và mức lãi suất đang rất thấp (1,5 - 1,75%), NHTW châu Âu (ECB) giảm giới hạn lãi suất tiền gửi 0,1% xuống -0,5%, bắt đầu từ ngày 18/9/2019. Trong khi lãi suất tại một số quốc gia như Hàn Quốc, Thái Lan đang ở mức thấp kỷ lục trong lịch sử5.

Thứ tư, hợp tác đa phương yếu hơn dẫn đến hạn chế trong việc phối hợp chống đỡ với đại dịch. Thế giới đang có những xung đột và chia rẽ sâu sắc, tình trạng “chiến tranh lạnh mới” với sự mâu thuẫn về lợi ích cốt lõi giữa Mỹ với Trung Quốc và Nga, ở châu Âu, nước Anh đã rời khỏi EU. Nhìn chung, các nước xem xét lại các mối quan hệ với đối tác khi chủ nghĩa dân tộc có xu hướng bùng phát tại các nền kinh tế lớn, xu hướng chuyển dịch sản xuất về trong nước và các khu vực đang ngày càng gia tăng làm phương hại thương mại và mối liên kết toàn cầu.

Thứ năm, phạm vi tác động của đại dịch COVID-19 rộng hơn khi diễn ra trên quy mô toàn cầu trong khi khủng hoảng tài chính 2008 - 2009 chỉ tác động tại Mỹ và khu vực EU. Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển vốn là lực đỡ cho khủng hoảng giai đoạn 2008 - 2009 thì nay cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đặc biệt COVID-19 phát tán mạnh nhất tại 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Ấn Độ, Ý, Brazil và Canada.

Theo IMF (tháng 4/2020), kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng âm ở mức 3% trong năm 2020, mức giảm được ghi nhận tại tất cả các khu vực, nền kinh tế trên thế giới, bao gồm cả các nền kinh tế phát triển, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dự báo thương mại toàn cầu có thể giảm 1/3 trong năm 2020, đồng thời dự báo thế giới có thể bước vào một cuộc suy thoái kinh tế sâu nhất lịch sử. WTO cho biết, Bắc Mỹ và châu Á sẽ là những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch COVID-19 và có thể chứng kiến kim ngạch xuất khẩu giảm lần lượt 40% và 36%, trong khi châu Âu và Nam Mỹ có thể chứng kiến sự sụt giảm hơn 30%6.

Ngoài tác động kinh tế, COVID-19 còn gây ra tác động đến vấn đề sức khỏe khi khiến hàng chục triệu người mắc bệnh, hàng chục nghìn người chết, chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các quy định cách ly, giãn cách xã hội, hạn chế và ngừng tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao... Như vậy, COVID-19 đã gây ra tác động chưa từng có tiền lệ đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.

Phản ứng chính sách của một số nước trên thế giới

Ứng phó với đại dịch COVID-19, các nước và khu vực trên thế giới đã có những bước đi cụ thể nhằm hỗ trợ nền kinh tế vượt qua khó khăn. Các nước đã có sự kết hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.

Tại Mỹ: Tiếp tục đà giảm lãi suất năm 20197, ngày 03/3/2020, do ảnh hưởng của COVID-19 đến hoạt động kinh tế nên FED đã cắt giảm lãi suất 0,5 điểm phần trăm, đưa biên độ xuống còn 1% - 1,25%; ngày 15/3/2020, Mỹ tiếp tục giảm lãi suất, đưa biên độ dao động của lãi suất xuống còn 0 - 0,25%. FED cũng cho biết sẽ mua 700 tỷ USD trái phiếu và chứng khoán được thế chấp nhằm ngăn chặn sự suy giảm của nền kinh tế. Bên cạnh đó, Mỹ đã công bố 3 dự luật hỗ trợ nền kinh tế: (i) Dự luật 1 trị giá 8,3 tỷ USD tập trung vào các cơ quan y tế và những người phải ứng phó đầu tiên với dịch; (ii) Dự luật 2 trị giá 104 tỷ USD hỗ trợ người lao động phải nghỉ phép khẩn cấp, xét nghiệm virus corona miễn phí và bảo hiểm thất nghiệp; (iii) Dự luật 3 trị giá 01 nghìn tỷ USD, mỗi người trưởng thành sẽ được hỗ trợ tờ Séc có trị giá 1.000 USD, trẻ em được hỗ trợ tờ Séc trị giá 500 USD.

Tại Trung Quốc: Là quốc gia có nguồn gốc của vi-rút Corona xuất hiện, Trung Quốc đã có những điều chỉnh kịp thời trong chính sách để đảm bảo nền kinh tế ổn định và có những hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Về chính sách tiền tệ, trong tháng 02/2020, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đã bơm 1.200 tỷ Nhân dân tệ - NDT (173,81 tỷ USD) vào các thị trường tiền tệ thông qua các hợp đồng mua lại trái phiếu đảo ngược và giảm 0,1% lãi suất cho vay trung hạn (MLF) cho các thể chế tài chính, từ 3,25% xuống còn 3,15%, ước tính giá trị các khoản vay này trị giá 200 tỷ NDT (khoảng 28,66 tỷ USD). Ngày 16/3, PBoC cấp thêm khoản vay kỳ hạn 1 năm trị giá 100 tỷ NDT cho các tổ chức tài chính, lãi suất vẫn giữ ở mức 3,15%.

Về phía chính sách tài khóa, tính đến ngày 2/3/2020, Trung Quốc đã chi 108,75 tỷ NDT (tương đương 15,58 tỷ USD) vào các nguồn quỹ đặc biệt để ứng phó và kiểm soát dịch bệnh COVID-19, bảo đảm cho người dân được chẩn đoán và chữa trị kịp thời. Cùng với đó, Chính phủ Trung Quốc hỗ trợ 1.000 tỷ NDT thanh toán bảo hiểm xã hội cho các doanh nghiệp, giúp tháo gỡ khó khăn, khôi phục sản xuất trong thời kỳ dịch bệnh; giảm thuế cho các doanh nghiệp ước tính khoảng 500 tỷ NDT, đồng thời cho phép các công ty tại tỉnh Hồ Bắc - được miễn nộp bảo hiểm trong 5 tháng8.

Tại Nhật Bản: Ngày 3/3/2020, Chính phủ Nhật Bản cho biết, sẽ trợ cấp 8.330 Yên (khoảng 80 USD)/người/ngày cho những người phải nghỉ phép để ở nhà trông con, trong bối cảnh nhiều trường học ở nước này phải đóng cửa vì dịch bệnh COVID-19. Gói tài chính này sẽ được trích từ quỹ dự phòng hơn 270 tỷ Yên (khoảng 2,5 tỷ USD), là gói chi tiêu khẩn cấp thứ hai của Chính phủ Nhật Bản để ứng phó với dịch bệnh. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản cũng đang chuẩn bị dự thảo cho luật mới nhằm chuẩn bị cho tình huống xấu nhất của dịch COVID-19 và giảm thiểu tác động của dịch bệnh tới cuộc sống của người dân.

Tại châu Âu: Ngày 12/3/20209, ECB thông báo tăng quy mô chương trình nới lỏng định lượng (QE) thêm 120 tỷ Euro. Việc bổ sung QE sẽ được thực hiện đến cuối năm. Ngày 19/3/2020, ECB công bố chương trình mua trái phiếu khẩn cấp. Theo đó, ECB đã triển khai chương trình mua tài sản trị giá 750 tỷ Euro để ứng phó với những rủi ro nghiêm trọng do sự bùng phát và lan rộng của COVID-19. Ngày 23/4/2020, các nhà lãnh đạo của EU đã nhất trí thông qua gói tài chính trị giá 540 tỷ Euro (tương đương khoảng 587 tỷ USD) nhằm hỗ trợ các quốc gia và doanh nghiệp đối phó với dịch COVID-19. Gói này được thực hiện từ ngày 01/6/2020.

Ngoài ra, một số quốc gia thành viên trong khối đã có những điều chỉnh kịp thời trong điều hành chính sách nhằm ứng phó nhanh với dịch COVID-19 đang lây lan nhanh tại châu Âu như hiện nay. Cụ thể:

Ngày 16/3/20208, Chính phủ Italy đã phê duyệt gói chi trị giá 25 tỷ Euro (tương đương khoảng 28 tỷ USD) nhằm hỗ trợ cho hệ thống y tế, các doanh nghiệp và người dân nhằm chống lại tác động kinh tế của dịch bệnh coronavirus tồi tệ nhất châu Âu.

Ngày 13/03/20209, Chính phủ Đức ban hành gói cứu trợ kinh tế và các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhằm vượt qua khó khăn, bao gồm hỗ trợ 550 tỷ Euro (khoảng 614 tỷ USD) cho các công ty mới khởi nghiệp; nới lỏng có thời hạn quy định về mức lương khi rút ngắn giờ làm, hỗ trợ thanh khoản cho các công ty gặp khó khăn do dịch bệnh. Ngày 25/3/202010, Chính phủ nước này tiếp tục thông qua gói cứu trợ lớn nhất trong lịch sử khi cung cấp 400 tỷ Euro để bảo đảm cho các khoản nợ của các công ty, thành lập quỹ cứu trợ 600 tỷ Euro, 100 tỷ Euro cho vay hoặc mua cổ phần của các công ty, 100 tỷ Euro thông qua ngân hàng phát triển nhà nước (KfW). Ngoài ra, ngân hàng KfW chuẩn bị sẵn 500 tỷ Euro để tăng thanh khoản cho các công ty Đức. Ngày 23/4/202011, tiếp tục thông qua gói cứu trợ bổ sung trị giá 10 tỷ Euro nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp vượt qua đại dịch COVID-19. Một số biện pháp được thực hiện như giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) xuống còn 7% cho các nhà hàng, hỗ trợ tiền lương tăng lên cho đến cuối năm 2020, thêm 500 triệu Euro dành cho các trường học và học sinh để tăng cường học tập trực tuyến và số hóa ngành giáo dục.

Ngày 11/3/2020, Chính phủ Anh thực hiện gói chi tiêu trị giá 39 tỷ USD, bao gồm hỗ trợ dịch vụ y tế, hỗ trợ các doanh nghiệp và người dân, trong đó Chính phủ sẽ thành lập một quỹ khó khăn trị giá 500 triệu Bảng cho chính quyền địa phương để giúp đỡ những người không thể làm việc… Tiếp đó, ngày 17/3/202012, Chính phủ nước này công bố gói tài chính hỗ trợ cho các doanh nghiệp trị giá 350 tỷ Bảng (tương đương với 424 tỷ USD), trong đó 330 tỷ Bảng cho vay đảm bảo cho các doanh nghiệp và 20 tỷ Bảng cắt giảm thuế cho các công ty gặp khó khăn.

Tại khu vực ASEAN: Indonesia, ngày 19/3/2020 thực hiện cắt giảm lãi suất repo ngược 7 ngày từ 4,75% xuống 4,5% trong bối cảnh đồng Rupiah giảm do ảnh hưởng của đại dịch. Trước đó, ngày 20/2/2020 nước này đã thực hiện cắt giảm lãi suất repo ngược 7 ngày từ 5% xuống 4,75% trong bối cảnh kinh tế dự kiến chịu tác động nặng nề. Ngày 13/3/202013, Chính phủ nước này công bố gói kích thích trị giá 120 nghìn tỷ Rupiah (tương đương khoảng 8,1 tỷ USD) để hỗ trợ nền kinh tế nước này trước sự lây lan của dịch COVID-19, bao gồm cung cấp các ưu đãi thuế và trợ cấp cho công nhân, doanh nghiệp và gia đình bị ảnh hưởng bởi đại dịch. Chính phủ cũng thực hiện cắt giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 30% trong sáu tháng và hoãn nộp thuế nhập khẩu trong sáu tháng cho 19 ngành sản xuất.

Philippines, ngày 6/2/2020 cắt giảm lãi suất repo ngược từ 4% xuống còn 3,75% nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Ngày 19/3/2020, NHTW Philippines đã hạ lãi suất cơ bản từ mức 3,75% xuống 3,25% - đây là mức thấp nhất kể từ tháng 5/2018, trong nỗ lực làm giảm đà suy giảm kinh tế. Ngày 16/3/2020, Chính phủ đã công bố gói hỗ trợ tài chính trị giá 27,1 tỷ Peso (khoảng 524,8 triệu USD) nhằm đối phó với dịch COVID-19 và hỗ trợ kinh tế cho những lĩnh vực bị ảnh hưởng lớn do đại dịch này.

Malaysia, ngày 11/02/2020 đã công bố gói kích thích kinh tế năm 2020 trị giá 20 tỷ Ringgit  (khoảng 4,7 tỷ USD) nhằm hỗ trợ các ngành nghề bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Ngày 3/3/2020, NHTW Malaysia thực hiện cắt giảm lãi suất chính sách qua đêm (overnight policy rate) từ mức 2,75% xuống 2,5% nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh dịch COVID-19 đang lan rộng. Sau đó, ngày 16/3/202013, Chính phủ Malaysia thông báo bổ sung 1 tỷ Ringit (tương đương khoảng 232,4 triệu USD) trong gói cứu trợ nhằm hạn chế tác động của dịch COVID-19, bao gồm trả lương cho người lao động phải nghỉ việc, giảm giá hóa đơn tiền điện, thanh toán thêm cho các gói hỗ trợ tài chính công cộng,… Ngày 6/4/2020, Chính phủ nước này tiếp tục ban hành gói kích thích kinh tế trị giá 10 tỷ Ringgit (khoảng 2,29 tỷ USD) nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua đại dịch.

Thái Lan: ngày 20/3/202014, NHTW Thái Lan đã thực hiện cắt giảm lãi suất chủ chốt từ mức 1% xuống mức 0,75% nhằm ứng phó với tác động của đại dịch đối với triển vọng kinh tế và thị trường tài chính trong nước.

 

Một số khuyến nghị cho Việt Nam

Trong vòng xoáy của COVID-19, Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng không nhỏ. Theo dự báo của IMF, kinh tế Việt Nam chỉ tăng trưởng ở mức 2,7% cho năm 2020 (giảm so với mức 7% được đưa ra hồi tháng 01/2020). Theo kết quả khảo sát của Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân (Ban IV), nếu COVID-19 kéo dài 6 tháng, 74% doanh nghiệp cho biết sẽ phá sản, gần 30% doanh nghiệp mất 20% - 50% doanh thu, 60% doanh nghiệp thậm chí giảm hơn một nửa doanh thu. Do tác động dịch bệnh, nhiều doanh nghiệp buộc phải cho lao động nghỉ việc hoặc cho nhân viên nghỉ không lương, thậm chí tạm dừng kinh doanh.

Từ nghiên cứu phản ứng chính sách của các nước và thực tiễn kinh tế của Việt Nam hiện nay (về tác động của COVID-19 cũng như một số biện pháp đã ban hành của Chính phủ), bài viết gợi ý một số khuyến nghị cho Việt Nam như sau:

Một là, tiếp tục thực hiện đồng bộ các chính sách vĩ mô: tài khóa, tiền tệ, xuất nhập khẩu. Đối với chính sách tiền tệ, cần thận trọng và linh hoạt. Đối với chính sách tài khóa, cần tập trung thực hiện tốt các biện pháp kích cầu nội địa trong điều kiện kinh tế khó khăn. Các thủ tục, giấy tờ trong việc xuất khẩu cần được giảm bớt, tăng cường xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường mới cho các doanh nghiệp.

Hai là, đảm bảo an sinh xã hội hiệu quả. Đối với gói an sinh xã hội trị giá khoảng 62.000 tỷ đồng nhằm hỗ trợ người lao động và người yếu thế trong xã hội thì cần thực hiện một cách khẩn trương, minh bạch, tránh trục lợi. Đảm bảo mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau”, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn hiện tại.

Ba là, đẩy nhanh việc chuyển đổi số nền kinh tế, thực hiện mạnh mẽ việc chấp nhận chữ kí điện tử, hợp đồng điện tử để thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử. Chính phủ cũng cần tiếp tục đẩy mạnh Chính phủ điện tử, đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp số hóa thành công. Các cơ quan hữu quan cũng hoàn thiện các chính sách liên quan đến kinh doanh điện tử, bảo mật… để các doanh nghiệp có phương thức kinh doanh, sử dụng dòng tiền của mình một cách hợp lý nhất, từ đó phát triển thương mại điện tử.

Bốn là, đối với các doanh nghiệp, cần tập trung nghiên cứu, áp dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, gia tăng khả năng cạnh tranh, đa dạng hóa thị trường, chú trọng đến vấn đề quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro nhằm, xây dựng mô hình linh hoạt để phản ứng kịp thời trước những diễn biến bất thường từ bên ngoài. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thương mại điện tử, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cần tận dụng cơ hội này phát triển, chiếm lĩnh thị trường.

Các bài viết khác: