Skip to content
ssc.gov.vn
Phản ứng với chính sách Covid-19
Toàn cảnh thị trường chứng khoán Thế giới và Việt Nam trong đại dịch Covid-19
260
15/06/2020

Thảm kịch của con người – đại dịch COVID-19 thách thức các mô hình hoạt động và kinh doanh khu vực tài chính, đã làm gia tăng rủi ro thị trường theo những cách chưa từng thấy kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trước đó. Thị trường chứng khoán (TTCK) toàn cầu đã giảm hơn 30%; Giá cổ phiếu và dầu biến động mạnh đến mức hoảng loạn; Tình trạng hỗn loạn gia tăng trên thị trường bất chấp những nỗ lực cải cách tài chính. Để hạn chế tối đa các biến động trên thị trường, cần hiểu rõ hàm ý chính sách hiệu quả, đánh giá đúng về cấu trúc thay đổi của thị trường toàn cầu do tác động của COVID-19. Báo cáo của Liên đoàn Sở Giao dịch Chứng khoán Thế giới (WFE) về điểm nhấn năm 2019 và tác động của COVID-19 đến TTCK đầu năm 2020 đã đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm lấy lại niềm tin, tạo đà cho thị trường hoạt động ổn định và phát triển.

 

TTCK CƠ SỞ

Ngày cuối cùng của năm 2019, Trung Quốc công bố các trường hợp viêm phổi ở Vũ Hán. Trường hợp đầu tiên được ghi nhận ngoài Trung Quốc là Thái Lan vào hai tuần sau đó (13/1/2020), đến ngày 31/3/2020, ổ dịch tuyên bố tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng và đến ngày 11/3, Tổ chức Y tế Thế giới đã mô tả COVID-19 là một đại dịch, một vài ngày sau đó, châu Âu trở thành trung tâm đại dịch. Gần như đồng thời, Mỹ cấm đi du lịch từ châu Âu và tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia. TTCK lâm vào tình trạng khủng hoảng với sự giảm sút nghiêm trọng của hàng loạt chỉ số, điển hình là S&P 500, SHANGHAI A, FTSE 100…

Chuỗi sự kiện liên quan đến đại dịch biến đổi chóng mặt đã tác động rõ ràng trên các TTCK: trong khi TTCK tháng 01 vẫn tăng trưởng mạnh mẽ, tháng 2 thì ít hơn nhưng đến tháng 3, chúng ta đã chứng kiến sự sụt giảm mạnh trên toàn cầu, cùng với mức độ hoạt động giao dịch giảm kỷ lục, cả về cổ phiếu và các công cụ phái sinh. Thật khó để phóng đại mức độ nghiêm trọng của cú sốc khi hơn 18 nghìn tỷ USD trên toàn cầu đã bị xóa sổ bởi cuộc khủng hoảng do COVID-19 gây ra trong suốt tháng 2 và tháng 3/2020. Nhưng, ngay cả trong thời điểm khó khăn như vậy, TTCK vẫn tiếp tục giữ đúng vai trò tạo điều kiện cho việc chuyển tiền trong nền kinh tế thực. Kết quả là quý I/2020, số lượng IPO (chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng) trên toàn cầu và lượng vốn huy động tăng lên đáng kể. Ngay cả trong tháng 3, tháng bị ảnh hưởng nhiều nhất trong quý, vẫn có hơn 70 thương vụ IPO trên toàn thế giới, tương đương hơn 9 tỷ USD. Kết quả đạt được trên thị trường sơ cấp đã chứng minh được vai trò hữu ích của TTCK để duy trì các nền kinh tế nội địa trong khi dịch bệnh bùng phát là cần thiết. Trước những biến động đột ngột do đại dịch, đại đa số thị trường vẫn mở cửa hoạt động, trật tự và kiên cường.

Vốn huy động được thông qua IPO đã giảm tốc trong tháng 2 và tháng 3 năm 2020 do sự bùng phát dịch COVID-19. Vào tháng 2/2020, các công ty đã huy động được 9,79 tỷ USD thông qua IPO, giảm 5,14% so với tháng 1/2020. Vào tháng 3/2020, các công ty đã tăng 9,25 tỷ USD thông qua IPO, giảm 5,65% so với tháng 2/2020.  Thị trường sơ cấp đóng vai trò quan trọng, cần thiết trong việc duy trì nền kinh tế trong nước khi dịch bùng phát.

Trong báo cáo, WFE lồng ghép số liệu của năm 2019 với quý I/2020 với mục đích giúp độc giả hiểu rõ hơn về cường độ của cú sốc và những thách thức mà TTCK phải đối mặt trong thời gian khó khăn. Nếu như vốn hóa thị trường toàn cầu cuối năm 2019 đã tăng 25,58% so với năm 2018, thì những tháng đầu năm 2020 do bùng nổ đại dịch COVID-19 khiến vốn hóa giảm đáng kể -13,61% so với cùng kỳ năm 2019, tất cả các khu vực đều bị ảnh hưởng như nhau: châu Mỹ mất 17,28% giá trị, khu vực châu Á - Thái Bình Dương giảm 12,76% và khu vực EMEA3 sụt 7,11%. Sự suy giảm phần lớn diễn ra vào tháng 2 và tháng 3: so với tháng 1 và 2/2020, TTCK toàn cầu chứng kiến mức giảm vốn hóa thị trường 12,82%. Tháng 3/2020 giảm mạnh đến 8,55%. So với quý IV/2019, vốn hóa thị trường toàn cầu giảm 20,75%; châu Mỹ giảm 22,18%; châu Á - Thái Bình Dương giảm 17,48% và EMEA giảm 22,79%.

 

TTCK PHÁI SINH

Trên TTCK phái sinh (TTCKPS), theo loại hợp đồng, năm 2019 quyền chọn tăng 17%, đạt 14,68 tỷ đồng, trong khi hợp đồng tương lai (HĐTL) tăng 13,5% lên 18,5 tỷ đồng trong suốt năm. Theo các loại sản phẩm, mức tăng tổng thể được điều khiển tăng theo mức tăng tất cả các loại sản phẩm ngoại trừ hợp đồng tiền tệ. Quý I/2020 - hiệu ứng của COVID-19 được thể hiện đặc biệt rõ ràng trên các TTCKPS, giao dịch phái sinh tăng mạnh đối với hầu hết các loại hợp đồng và ở tất cả các khu vực, giao dịch HĐTL tỷ lệ thuận với giao dịch hợp đồng quyền chọn (HĐQC). Các nhà đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào TTCKPS nhằm phòng vệ rủi ro, đối phó với biến động ngày càng tăng trên toàn cầu. Kết quả là, giao dịch CKPS tăng cao nhất trong tất cả các loại hợp đồng và tất cả các khu vực.

Các công cụ phái sinh vốn cổ phần trong quý I/2020 tăng 58,82% so với quý I/2019, khối lượng giao dịch HĐQC cổ phiếu đơn tăng 39,60% so với cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên, sau khi tăng nhẹ vào tháng 2/2020, khối lượng giao dịch HĐQC đơn lẻ đã giảm vào tháng 3/2020 (so với tháng 2/2020).

 

MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Đại dịch COVID-19 bùng phát dẫn đến sự sụt giảm mạnh về vốn hóa thị trường toàn cầu vào cuối quý I/2020: với mức giảm 13,61% so với quý I/2019, hơn 18 nghìn tỷ USD trên toàn cầu đã bị COVID-19 xóa sạch chỉ trong tháng 2 và 3/2020.

Việt Nam cũng không ngoại lệ, chỉ trong tháng 3/2020, VN Index giảm mạnh tới 25,77% so với tháng 2, kết thúc phiên giao dịch cuối tháng 3 chỉ còn 662,53 điểm; chỉ số VN30 cũng giảm 28,57% xuống 610,76 điểm. Tổng khối lượng giao dịch cổ phiếu trong tháng đạt 5.990 triệu, tương đương 97.800 tỷ đồng. Trong đó, nhà đầu tư nước ngoài bán ròng lên tới 7.952 tỷ đồng. Tương tự, chỉ số HNX Index cũng giảm mạnh trong tháng 3, tháng đỉnh điểm bùng phát đại dịch COVID-19. 

Trước tình hình đó, nhằm hỗ trợ TTCK trước ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, Bộ Tài chính đã kịp thời ban hành Thông tư số 14/2020/TT-BTC ngày 18/3/2020 về điều chỉnh giảm giá và miễn hoàn toàn không thu đối với 15 loại dịch vụ chứng khoán trong vòng 5 tháng. Cùng với đó, Chính phủ Việt Nam tung ra các gói chính sách kích cầu kinh tế kịp thời và việc Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về việc kiểm soát tốt dịch bệnh có thể sẽ giúp cho Việt Nam sớm vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế, TTCK đã phục hồi và dần tăng trưởng trở lại.

Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 hiện đang làm tê liệt một phần của nền kinh tế thế giới, bắt đầu làm xói mòn khả năng thanh toán của các doanh nghiệp trên khắp các quốc gia bị ảnh hưởng. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng không ngoại lệ khi phải đối mặt với hàng loạt rủi ro do đứt đoạn quá trình sản xuất, thay đổi chuỗi giá trị cùng với những khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn để trả nợ, thuế và chi phí hoạt động… Đối mặt với các khó khăn đó, doanh nghiệp sẽ có ít sự lựa chọn ngoài việc giảm chi phí và việc làm để chịu được áp lực mất khả năng thanh toán. Do đó, thất nghiệp gia tăng sẽ làm giảm tiêu dùng hộ gia đình và người tiêu dùng khó có khả năng trả nợ, làm xói mòn chất lượng tài sản của các ngân hàng và các tổ chức cho vay, tác động không nhỏ đến hệ thống tài chính nói chung và TTCK nói riêng. Mức độ ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 mạnh hơn nhiều so với các đợt khủng hoảng trước kia, bởi đại dịch lần này ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng toàn cầu. Do vậy, cùng với các giải pháp tổng thể đã ban hành, để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, cần phải:

Thứ nhất, để củng cố niềm tin của TTCK, doanh nghiệp - thành tố cốt lõi của TTCK, cần có giải pháp kết hợp bảo đảm vốn, nợ và tín dụng cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng. Chẳng hạn thiết kế chương trình và các điều khoản về điều kiện sẽ là trọng tâm trong hiệu quả trong khi giải quyết các rủi ro. Thực hiện các gói tài trợ tạm thời để giúp doanh nghiệp khôi phục và ổn định cho đến khi điều kiện kinh tế được cải thiện.

Thứ hai, các tổ chức phát hành ra công chúng cần cung cấp cho các nhà đầu tư về đánh giá toàn cảnh rủi ro cũng như kế hoạch khắc phục các rủi ro trong hoạt động kinh doanh cũng như các rủi ro do tác động của COVID-19.

Thứ ba, xem xét kỹ lưỡng hơn đối với việc áp dụng giao dịch tần số cao và thuật toán, chú ý nhiều hơn đến việc xem xét các chiến lược thuật toán có nhiều khả năng gặp trục trặc trong thời kỳ căng thẳng thị trường cấp tính. Giảm sự tiếp xúc trực tiếp nhằm hạn chế khả năng lây lan nếu dịch có chiều hướng trở lại. Song hành cùng đó, cần xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, quy trình giám sát phòng ngừa, phát hiện sớm các hành vi rửa tiền hay lạm dụng thị trường, đảm bảo thị trường hoạt động suôn sẻ và ổn định.

Thứ tư, nỗ lực vận hành các nguyên tắc FSB/IOSCO để quản lý thanh khoản và các công cụ khác trong quản lý tài sản, để đảm bảo các quỹ mở có đủ thanh khoản để đáp ứng các khoản giảm đột xuất. Điều này đặc biệt quan trọng trên các thị trường thu nhập cố định ít thanh khoản bị ảnh hưởng bởi COVID-19.

Cần nhận rõ, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nhấn mạnh tầm quan trọng của những nỗ lực toàn diện và phối hợp - trong và trên khắp các quốc gia - để đảm bảo niềm tin kinh doanh và thị trường được phục hồi. Do tác động của COVID-19 làm xói mòn niềm tin của thị trường và doanh nghiệp, các cơ quan quản lý cần được khuyến khích xây dựng kịch bản và chính sách phản ứng nhanh trong phạm vi quyền hạn tương ứng đảm bảo hiệu quả và hiệu lực trong thực thi.

 

Các bài viết khác: