Skip to content
ssc.gov.vn
Phát triển thị trường chứng khoán hướng đến mục tiêu an toàn, bền vững
Nỗ lực đạt mục tiêu nâng hạng
245
15/03/2019

Trong những năm qua, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc cả về lượng và chất, tỷ trọng huy động vốn tăng lên đáng kể và xấp xỉ bằng với kênh huy động thông qua hệ thống ngân hàng. Tháng 6/2018, trong báo cáo đánh giá về các TTCK trên thế giới, Morgan Stanley Capital International (MSCI) đã đưa ra đánh giá và xếp loại về TTCK Việt Nam, tuy nhiên MSCI chưa đưa TTCK Việt Nam vào danh sách nâng hạng. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên và các giải pháp để Việt Nam sớm đạt được mục tiêu được MSCI nâng hạng là gì?

TTCK Việt Nam chưa đạt được mục tiêu nâng hạng

Ngày 21/6/2018, MSCI đã công bố kết quả phân loại thị trường định kỳ dành cho 84 TTCK trên thế giới. Theo kết quả công bố, TTCK Việt Nam chưa được đưa vào danh sách xem xét để được nâng hạng từ thị trường cận biên (Frontier Market) sang thị trường mới nổi (Emerging Market). MSCI chia TTCK toàn cầu làm 4 nhóm chính: thị trường phát triển (developed market), thị trường mới nổi (emerging market), thị trường cận biên (frontier market) và thị trường độc lập (standalone market). MSCI sử dụng hai hệ tiêu chí để phân loại thị trường. Hệ tiêu chí thứ nhất bao gồm các tiêu chí đánh giá về khía cạnh định lượng (nhóm A, nhóm B); hệ tiêu chí thứ hai bao gồm các tiêu chí đánh giá về khía cạnh định tính (nhóm C). MSCI đưa ra kết quả dựa vào tình hình của TTCK đồng thời hệ tiêu chí định tính dựa vào đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN). MSCI sẽ công bố kết quả đánh giá và xếp hạng thị trường vào tháng 6 hàng năm.

Trong đợt công bố tháng 6/2018, TTCK Việt Nam đã đạt, thậm chí là vượt xa các yêu cầu của hệ tiêu chí định lượng. Nếu nhóm tiêu chí A không có điều kiện, thì theo nhóm tiêu chí B một thị trường mới nổi phải có ít nhất 03 doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu: Tổng quy mô vốn hóa đạt 1.375 triệu USD; Vốn hóa tự do đạt 687 triệu USD; Tỷ lệ giá trị giao dịch hàng năm (ATVR - Annualized Traded Value Ratio) đạt tối thiểu 15%. Theo một báo cáo mới nhất của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đánh giá về TTCK Việt Nam, tính đến hết tháng 6/2018, TTCK Việt Nam đã có tới 7 doanh nghiệp đạt tất cả các tiêu chuẩn về quy mô và tính thanh khoản theo tiêu chí thị trường mới nổi của MSCI (VNM, VIC, MSN, HPG,...). Trong khi đó, nếu xét riêng quy mô doanh nghiệp (theo yêu cầu của MSCI là 1.594 triệu USD) thì Việt Nam có 22 doanh nghiệp đạt tiêu chí này; Về quy mô chứng khoán (theo yêu cầu của MSCI là 797 triệu cổ phiếu) thì TTCK Việt Nam có 16 doanh nghiệp đạt tiêu chí; Về thanh khoản chứng khoán (theo yêu cầu của MSCI là 15% ATVR) thì TTCK Việt Nam có 276 doanh nghiệp đạt tiêu chí này.

Tuy nhiên, nhóm tiêu chí định tính mới là vấn đề chính của TTCK Việt Nam, đặc biệt các tiêu chí trong nhóm này không có sự cải thiện so với các Báo cáo được đưa ra vào tháng 6/2017 và tháng 6/2016. Chỉ có một tiêu chí là “đăng ký đầu tư và mở tài khoản” được đánh giá từ mức “Cần phải cải thiện (-/?) sang mức Không có vấn đề lớn, có thể cải thiện (+)”, còn lại 9 tiêu chí khác vẫn chưa đạt được điều kiện mà MSCI đưa ra, trong đó có thể kể đến như: giới hạn sở hữu nước ngoài; “room” ngoại còn lại của nhà ĐTNN; quyền công bằng của nhà ĐTNN; quy định giới hạn dòng vốn; luồng thông tin; thanh toán và bù trừ… Như vậy, trong tổng số 17 tiêu chí định tính thì hiện nay TTCK Việt Nam còn cần khắc phục 9 tiêu chí, do vậy sẽ còn rất nhiều việc phải làm nếu Việt Nam muốn đạt mục tiêu thăng hạng TTCK trong thời gian tới.

Báo cáo của MSCI công bố tháng 6/2018 cũng chỉ ra 3 vấn đề mà TTCK Việt Nam cần khắc phục.

Thứ nhất, mở cửa thị trường với sở hữu nước ngoài còn hạn chế. Các giới hạn về tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong các công ty thuộc ngành nghề có điều kiện và nhạy cảm phải tuân thủ quy định về giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài liên quan. Một số thông tin có liên quan đến công ty chưa được công bố bằng tiếng Anh. Bên cạnh đó, quyền của các nhà ĐTNN cũng bị giới hạn do quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài áp dụng đối với cả nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân nước ngoài.

Thứ hai, mức độ thuận lợi cho dòng vốn vào/ra cần được cải thiện. Tại Việt Nam, không có thị trường tiền tệ ở nước ngoài và có các quy định bắt buộc đối với thị trường tiền tệ trong nước (ví dụ các giao dịch ngoại hối phải được liên kết với giao dịch bảo đảm).

Thứ ba,  hiệu quả của các khuôn khổ hoạt động cần cải thiện. Một số văn bản pháp luật chưa có bản tiếng Anh, trong khi thông tin TTCK nhiều trường hợp chưa được công bố bằng tiếng Anh và đôi khi không đầy đủ chi tiết. Việc thanh toán bù trừ còn hạn chế khi không có trung tâm thanh toán bù trừ chính thức và trung tâm lưu ký đóng vai trò là đại lý thanh toán bù trừ, ngoài ra, không có các phương tiện thấu chi và có quy định phải ký quỹ giao dịch. Trong khi khả năng chuyển nhượng không đi kèm thanh toán tiền (cho, tặng, thừa kế...) phải được sự chấp thuận trước của UBCKNN. Như vậy, điểm mấu chốt trong những rào cản đối với Việt Nam đó là: nhà ĐTNN gặp khó khăn trong việc tiếp cận các thông tin về chính sách cũng như thông tin của các doanh nghiệp.

Khó khăn lớn nhất đối với Việt Nam nhằm nâng hạng rõ ràng nằm ở chỗ phải lấy được niềm tin của các nhà ĐTNN, bởi các chỉ tiêu định tính được lấy thông qua ý kiến của các nhà ĐTNN tại Việt Nam. Theo ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch HĐQT Công ty chứng khoán CTCK SSI, việc MSCI chưa đưa Việt Nam vào danh sách xem xét nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đã định vị rõ ràng vị trí của thị trường Việt Nam hiện đang ở đâu trong bản đồ thị trường vốn quốc tế, đồng thời quan trọng nhất là lấy được lòng tin cũng như nâng cao độ hài lòng của nhà đầu tư tại TTCK Việt Nam.

Trên thực tế, có rất nhiều nhà ĐTNN đánh giá cao về cơ hội, môi trường đầu tư ở Việt Nam. Dragon Capital, Shinhan Bank là những ví dụ điển hình, sau hơn 7 năm đầu tư vào Việt Nam, Tổng Giám đốc Shinhan Bank thể hiện sự tin tưởng tương lai dài hạn của Việt Nam. Đại diện của Quỹ này cho biết, mặc dù đã trải qua rất nhiều cân nhắc trong việc chọn đầu tư vào Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia hay Việt Nam, nhưng cuối cùng đã chọn Việt Nam vì nhận thấy Chính phủ Việt Nam có sự ủng hộ rất lớn với nhà ĐTNN cũng như môi trường kinh doanh thuận lợi. Trong khi đó, ông Dominic Sciven, Chủ tịch Dragon Capital đánh giá cao chính sách mở cửa của Chính phủ Việt Nam, nhất là vấn đề giảm thiểu các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà ĐTNN.

 

Cần các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt từ Chính phủ

Được MSCI xếp vào nhóm các thị trường mới nổi sẽ mang lại cơ hội lớn đối với TTCK Việt Nam trong việc nâng cao sức hút với các quỹ và các nhà đầu tư, qua đó giúp các doanh nghiệp huy động nguồn vốn từ trong và ngoài nước, đồng thời tạo một làn sóng tăng điểm mạnh mẽ chỉ số chung. Chỉ tính riêng quỹ MSCI Emerging Market, dòng vốn đầu tư ước tính là 1.900 tỷ USD, nghĩa là chỉ cần 0,1% giá trị quỹ này đầu tư vào Việt Nam, dòng vốn ghi nhận sẽ là 1,9 tỷ USD (tương đương 43 nghìn tỷ đồng). Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho rằng, hiện quỹ đầu tư lớn nhất đang sử dụng MSCI là BlackRock đang nắm trong tay danh mục đầu tư vào thị trường mới nổi quy mô 60 - 70 tỷ USD thì có thể sẽ chiếm hơn 1% trong tỷ trọng đầu tư, xấp xỉ Philippines, tương đương sẽ có thêm 600 triệu USD đổ vào thị trường, đây là chưa kể đến lượng tiền đổ vào từ các quỹ khác, nhóm khác. Một khi TTCK được nâng hạng, hoạt động trên thị trường sẽ trở lên sôi động, các chỉ số sẽ tăng lên đáng kể. Kinh nghiệm tại Pakistan cho thấy, từ khi được đưa vào danh sách xem xét nâng hạng đến khi chính thức có thông báo thăng hạng vào tháng 6/2017, chỉ số KSE 100 của nước này đã tăng từ 30.000 lên đỉnh 52.000 (tương đương với mức tăng 73,3%).

So với yêu cầu của việc nâng hạng TTCK, nhóm các tiêu chí định lượng của Việt Nam đều đã đạt được yêu cầu của MSCI. Có một số ý kiến cho rằng, các chỉ tiêu của TTCK Việt Nam có thể bị méo mó khi có 10 cổ phiếu lớn nhất chiếm 60% vốn hóa thị trường, điều này có thể gây đánh giá không tốt từ phía các chuyên gia. Tuy nhiên, thực tế từ một số TTCK khác như Qatar, 5 mã lớn nhất chiếm đến 48,49%; UAE có 5 mã lớn nhất chiếm đến 77,73% vẫn được MSCI đưa vào danh sách các thị trường mới nổi. Các chuyên gia phân tích của Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) đánh giá, về cơ bản, Việt Nam đã thỏa mãn các điều kiện định lượng liên quan tới quy mô thị trường và quy mô giao dịch. Các điều kiện định tính là những rào cản cuối cùng để MSCI cũng như các tổ chức phân loại thị trường khác như FTSE và S&P cân nhắc khả năng nâng hạng. Theo SSI, kịch bản thuận lợi nhất, Việt Nam có thể được MSCI nâng hạng lên thị trường mới nổi (Emerging Markets) vào năm 2020, trước đó cần ít nhất 1 năm để MSCI xin ý kiến tư vấn đánh giá từ cộng đồng đầu tư quốc tế, và thêm 1 năm để các quỹ đầu tư chuẩn bị cho các thay đổi và tái cơ cấu các danh mục đầu tư.

Tuy nhiên để đạt mục tiêu nâng hạng, TTCK Việt Nam cần cải thiện các hạn chế đang gặp phải bằng một loạt các giải pháp đồng bộ, quyết liệt, có sự chỉ đạo thống nhất từ Chính phủ đến các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước...

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý, trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán (sửa đổi) theo hướng giải quyết các vướng mắc hiện hành với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Các quy định cần tạo được sự thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà ĐTNN, nhất là vấn đề về lĩnh vực kinh doanh, quyền hạn của nhà ĐTNN, khả năng thanh toán cũng như khả năng tiếp cận thông tin. Liên quan đến những ngành nghề thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, MSCI cho rằng, Việt Nam vẫn cần cải thiện. Chẳng hạn, Việt Nam hiện là quốc gia duy nhất trên thế giới còn khống chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài vào ngành Ngân hàng chỉ ở mức 30% vốn điều lệ. Điều này gây ra tâm lý e ngại cho khối nhà ĐTNN khi họ không thể nâng cao quyền hạn của mình. Mặc dù Nghị định 60/2015/NĐ-CP1 của Chính phủ đã có những sự điều chỉnh nhằm nới “room” cho nhà ĐTNN, nâng mức tối đa sở hữu của nhà ĐTNN lên đến 49% nhưng trong quá trình áp dụng vào thực tiễn vẫn còn có những hạn chế do thủ tục, quy trình. Về vấn đề này, theo CTCK SSI, nới “room” không phải là giải pháp duy nhất để gia tăng quy mô đầu tư cho nhà ĐTNN; còn nhiều cách khác như thúc đẩy cổ phần hóa, niêm yết các doanh nghiệp lớn và tăng tỷ lệ tự do chuyển nhượng (free float) thông qua giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, rõ ràng nếu được “nới room”, chắc chắn nhà ĐTNN sẽ đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn.

Bên cạnh vấn đề “nới room”, các quy định pháp luật cần tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các nhà đầu tư. Trong vấn đề tạo bình đẳng cho nhà ĐTNN, bà Sylviane Carot, Phó Chủ tịch chỉ số MSCI, từng lưu ý, Việt Nam cần tạo môi trường đầu tư không quá khác biệt giữa nhà ĐTNN và nhà đầu tư trong nước. Hiện tại, MSCI đánh giá Việt Nam chưa tốt ở khía cạnh giới hạn sở hữu với từng nhà đầu tư và yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam chú ý hơn đến quản trị công ty cũng như công bố thông tin (CBTT) bằng tiếng Anh.

Thứ hai, đa dạng và nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường; bổ sung nguyên tắc áp dụng báo cáo tài chính (BCTC) theo chuẩn mực quốc tế, vấn đề CBTT bằng tiếng Anh. Mới đây, TTCK Việt Nam đã có thêm TTCK phái sinh, điều này làm phong phú thêm sự lựa chọn cũng như tạo sự tin tưởng cho các nhà ĐTNN. Tuy nhiên, để thị trường mới này phát huy hiệu quả cao nhất, cần nghiên cứu kỹ tác động qua lại giữa TTCK phái sinh và thị trường cơ sở, Bộ Tài chính và UBCKNN cần đưa ra giải pháp để phát triển TTCK phái sinh theo hướng đa dạng hơn.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, thoái vốn của các doanh nghiệp nhà nước gắn với việc niêm yết và đăng ký giao dịch. Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), nghiên cứu phát triển theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế; đồng thời nghiên cứu, triển khai mô hình, cơ chế và hạ tầng công nghệ, kỹ thuật cho thị trường TPDN, đặc biệt là cơ sở dữ liệu thông tin về TPDN.

Thứ ba, tăng cường tính minh bạch của thị trường, bao gồm cả việc yêu cầu các doanh nghiệp đưa ra các báo cáo, thông tin bằng tiếng Anh: Tăng cường giám sát chất lượng của các công ty kiểm toán khi thực hiện kiểm toán BCTC của công ty đại chúng (CTĐC); chất lượng hồ sơ tư vấn phát hành, niêm yết của CTCK; nâng cao trách nhiệm của CTĐC thông qua áp dụng các thông lệ tốt về quản trị công ty theo Nghị định 71/2017/NĐ-CP... Đồng thời yêu cầu các công ty dần áp dụng chuẩn mực kế toán IFRS hoặc gần với chuẩn mực kế toán IFRS (một trong các yêu cầu của MSCI về các CTCK) thay thế chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) (khác nhiều so với IFRS). Ngoài ra, Việt Nam cũng cần nghiên cứu để đưa ra công cụ cho vay thấu chi, làm tăng khả năng thanh khoản của các nhà đầu tư.

Thứ tư, tái cấu trúc các tổ chức tham gia thị trường và tăng cường hoạt động thanh kiểm tra. Tiến hành phân loại các CTCK, công ty quản lý quỹ theo chất lượng tài chính và khả năng cung cấp dịch vụ; thành lập Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, tạo sự thống nhất trong quản lý điều hành hoạt động chứng khoán trên thị trường. Phát triển, phân định các khu vực thị trường để nâng cao vị thế của Sở trong khu vực ASEAN; nghiên cứu áp dụng mô hình thanh toán đối tác bù trừ trung tâm (CCP) cho cả các giao dịch trên thị trường cơ sở theo thông lệ.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính, UBCKNN cần tăng cường các hoạt động thanh, kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm để đảm bảo thị trường phát triển lành mạnh, bền vững.

Trong thời gian tới, Việt Nam cần giữ vững và phát huy các yếu tố định lượng đã đạt yêu cầu xếp hạng của MSCI, đồng thời cải thiện lòng tin của các nhà đầu tư thông qua hệ thống các giải pháp đồng bộ, thống nhất. Với quyết tâm và sự vào cuộc của Nhà nước cũng như sự nỗ lực của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, mục tiêu nâng hạng TTCK Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện được.

 

Các bài viết khác: