Skip to content
ssc.gov.vn
Phát triển thị trường chứng khoán hướng đến mục tiêu an toàn, bền vững
Luật chứng khoán và luật kiểm toán cần đảm bảo áp dụng đồng nhất và tương thích các quy định về kiểm toán
245
15/03/2019

Bà Hà Thu Thanh – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Deloitte Việt Nam

 


Đối với Dự thảo Luật Chứng khoán (sửa đổi), chúng tôi có 3 ý kiến sau:

Thứ nhất, câu chuyện về tính minh bạch của các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp thành viên trên TTCK gồm các công ty đại chúng (CTĐC) và doanh nghiệp niêm yết (DNNY) đã được đặt ra ngay từ đầu trong Dự thảo Luật. Nhưng thế nào là minh bạch và thế nào là minh bạch đầy đủ? Từ trước đến nay, Việt Nam đã có quy định kiểm toán độc lập và kiểm toán BCTC nhưng thực ra BCTC khi được công bố toàn bộ trên website của các CTĐC và DNNY thì chưa phản ánh đầy đủ. Các công ty thường có cả bản cáo bạch và báo cáo thường niên, trong đó có nhiều thông tin phi tài chính và các thông tin này thực ra mới là lõi, là gốc của số liệu tài chính. Các thông tin tài chính đã được kiểm toán là thông tin của quá khứ, của một năm trước, nhưng những thông tin của bản cáo bạch và thông tin trong báo cáo thường niên thì có cả thông tin hiện tại và tương lai. Vì vậy, các thông tin trên bản cáo bạch cũng nên và rất cần được kiểm toán vì đó là bức tranh tổng thể và tạo sự tin cậy hơn đối với người sử dụng báo cáo, không chỉ đối với các nhà đầu tư mà còn với cả các cơ quan quản lý nhà nước.

Thứ hai, việc kiểm toán bản báo cáo minh bạch phải được thực hiện không chỉ đối với các DNNY mà đối với cả các CTĐC, không chỉ cho một năm hiện tại và một năm trước đó, đặc biệt với các công ty mới IPO hoặc các công ty mới trở thành CTĐC trên thị trường UPCoM thì việc thông tin đầu vào của doanh nghiệp trước khi đăng ký giao dịch hoặc niêm yết trên thị trường cần được kiểm toán kỹ hơn. Do đó, cũng nên có quy định rõ ràng về kiểm toán minh bạch cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính trước khi DNNY và đăng ký giao dịch cổ phiếu trên thị trường, kể cả thị trường UpCoM vì đó là khâu chuẩn bị rất quan trọng trước khi doanh nghiệp chính thức tham gia vào TTCK.

Thứ ba, Luật Chứng khoán là một luật chuyên ngành và Luật Kiểm toán cũng là một luật chuyên ngành. Do vậy, Luật Chứng khoán (sửa đổi) có quy định liên quan đến hoạt động kiểm toán và kiểm toán độc lập thì chúng tôi mong muốn rằng hai Luật này có tương tác với nhau để đảm bảo một sự áp dụng đồng nhất và tương thích thay vì có những xung đột và dẫn tới khó triển khai thực hiện. Ví dụ, trong Dự thảo Luật Chứng khoán (sửa đổi) có yêu cầu các tổ chức kiểm toán được chấp thuận phải CBTT theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) hoặc hai Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) khi có những sự kiện xảy ra mà ảnh hưởng trọng yếu tới quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Theo các nguyên tắc, quy trình, cách thức kiểm toán độc lập đã được quy định rất rõ trong Luật Kiểm toán và các chuẩn mực kiểm toán, trách nhiệm của kiểm toán viên (KTV) nói chung trong việc thực hiện các nhiệm vụ kiểm toán dựa trên quy trình chọn mẫu và đưa ra ý kiến nhận xét về tính trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu chứ họ không chịu trách nhiệm tất cả. Vì vậy, Luật Chứng khoán (sửa đổi) chỉ nên quy định trách nhiệm của KTV liên quan tới CBTT đối với các DNNY nằm trong phạm vi luật quy định chứ không thể công bố toàn bộ bản CBTT của toàn bộ doanh nghiệp kiểm toán đó. Do vậy, chúng tôi kiến nghị những nội dung nào đã được quy định rõ trong Luật Kiểm toán độc lập và được thực thi bởi các hệ thống chuẩn mực kiểm toán độc lập theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế đã được áp dụng gần như toàn bộ thì nên áp dụng theo luật đó, còn trách nhiệm của các tổ chức kiểm toán, cá nhân kiểm toán được quy định riêng thay vì đưa vào quy định chung trong Luật Chứng khoán (sửa đổi) để tránh trường hợp khi các chuẩn mực kiểm toán thay đổi thì các quy định trong Luật lại trở nên bất cập.

Ngoài ra, đã rất nhiều năm chúng ta bàn tới điều kiện để nâng hạng thị trường, và một trong những điều kiện rất quan trọng đó là tính minh bạch, công khai, đảm bảo quyền tiếp nhận thông tin của các nhà đầu tư. Trong quy định về công bố BCTC có nêu khuyến khích CBTT bằng tiếng Anh. Nhưng vấn đề không phải là ngôn ngữ trong BCTC là tiếng Việt hay tiếng Anh mà nó là chuẩn mực BCTC quốc tế thì dù có để tiếng Việt hay dịch sang tiếng Anh thì nhà ĐTNN vẫn hiểu được, còn nếu dịch tiếng Anh tốt nhưng bản thân BCTC đó dựa trên báo cáo của Việt Nam mà đang có khoảng cách lớn thì cũng không có ý nghĩa. Chính vì vậy, việc áp dụng các chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) nên được triển khai thí điểm, khuyến khích áp dụng đối với các DNNY, trước hết là các công ty trong rổ VN30 hoặc các công ty có quy mô lớn và đang tìm kiếm các nhà ĐTNN. Khi đó, dù các công ty có áp dụng IFRS mà bằng tiếng Việt thì nhà ĐTNN họ vẫn sẽ hiểu được nội dung của BCTC.

Liên quan tới vấn đề quản trị công ty (QTCT), rất nhiều năm trong các báo cáo của nhiều tổ chức quốc tế cho thấy các DNNY của Việt Nam có chỉ số QTCT rất thấp. Mặc dù Việt Nam cũng đã có các quy định chung về QTCT của các DNNY nhưng nó vẫn đang chỉ ở khâu gọi là thủ tục và hình thức nhiều hơn. Một trong những cách làm tăng cường các chỉ số và sức mạnh QTCT chính là quyền và trách nhiệm, sự tương tác của hội đồng quản trị (HĐQT) đối với sự phát triển của công ty theo các thông lệ và nó phải là thực chất. Việt Nam đã mất nhiều năm để có quy định đơn giản là các HĐQT phải có các thành viên độc lập để hỗ trợ và có cách nhìn riêng nhằm đảm bảo đây là kênh thông tin minh bạch, tạo sự tin cậy cho các nhà đầu tư. UBCKNN nên sớm hoàn thành để đưa ra Thẻ điểm QTCT, hướng tới quản trị thực chất và quản trị hiệu quả. Năng lực của HĐQT và sự tương tác của ban điều hành sẽ tạo ra nhiều hệ thống thông tin tài chính và phi tài chính theo chuẩn mực. 

Cuối cùng, với tư cách là công ty kiểm toán và KTV, tôi cho rằng việc CBTT tài chính và các thông tin liên quan đến BCTC đầu tiên và trước hết phải thuộc trách nhiệm của các DNNY. Tương ứng với đó là trách nhiệm của các KTV, các công ty kiểm toán, tổ chức kiểm toán cũng được quy định rõ và việc quy định đó được dựa trên trách nhiệm của Luật Doanh nghiệp và vai trò của doanh nghiệp trên thị trường. Theo đó, chúng tôi cam kết sẽ cùng với Hiệp hội KTV hành nghề Việt Nam và bản thân Deloitte hoặc Big 4 cũng sẽ tiếp tục hoàn thiện và liên tục nâng cao chất lượng của các công việc kiểm toán thông qua việc không chỉ đào tạo cho các nhân viên hành nghề mà còn hỗ trợ đào tạo cho các công ty trên thị trường thông qua Hiệp hội KTV hành nghề Việt Nam, đặc biệt là tiếp tục nâng cao và hoàn thiện đạo đức hành nghề của các KTV.

 

Các bài viết khác: